Chương 1 : QLDA ĐTXD hạ tầng giao thông - cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn. Chương 2 : Thực trạng công tác QLDA ĐTXD hạ tầng giao thông trong KKT Đông nam Nghệ an. Chương 3 : Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác QLDA ĐTXD hạ tầng giao thông trong KKT Đông nam Nghệ an. 7 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG 1.1 Dự án đầu tƣ xây dựng hạ tầng giao thông 1.1 Khái niệm và đặc trưng Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về DA.
Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về DA: cách hiểu “tĩnh” và cách hiểu “động”. Theo cách hiểu “tĩnh” thì DA là một hình ảnh về một tình huống mà ngƣời ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu “động” thì: Theo nghĩa chung nhất, DA là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một KH tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Theo định nghĩa này thì : (1) DA không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; (2) DA không phải là một nghiên cứu trừu tƣợng mà phải cấu trúc nên một thực thể mới.
Trên phƣơng diện QL, có thể định nghĩa DA nhƣ sau: DA là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: (1) Nỗ lực tạm thời - mọi DA đều có điểm bắt đầu và điểm kết thúc xác định; (2) Sản phẩm hay dịch vụ duy nhất. Vậy, DA ĐTXD hạ tầng giao thông là bản hoạch định, trong đó xác định nhiệm vụ cụ thể về xây dựng hạ tầng giao thông cần được thực hiện, với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một KH tiến độ nhằm tạo ra một hạ tầng giao thông mới. Từ những định nghĩa trên có thể rút ra những đặc trƣơng cơ bản của DA nhƣ sau: DA có mục đích, kết quả xác định Mỗi DA thể hiện một hoặc một nhóm nhiệm vụ cần đƣợc thực hiện với một bộ kết quả xác định nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó.
DA cũng là một 8 z hệ thống phức tạp nên cần đƣợc chia thành nhiều bộ phận khác nhau để thực hiện và QL nhƣng phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lƣợng cao. (2) DA có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn Giống nhƣ các thực thể sống, DA cũng trải qua các giai đoạn : Hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc. (3) DA liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận QL chức năng với QLDA … DA nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan nhƣ chủ đầu tƣ , ngƣời hƣởng thụ DA, các nhà tƣ vấn, nhà thầu, các cơ quan QL nhà nƣớc … Tuỳ theo tính chất và yêu cầu của chủ đầu tƣ mà sự tham gia của các thành phần trên là khác nhau. Giữa các bộ phận QL chức năng và nhóm QLDA thƣờng xuyên có quan hệ lẫn nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhƣng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau.
Vì mục tiêu của DA, các nhà QLDA cần duy trì thƣờng xuyên mối quan hệ với các bộ phận QL khác. (4) Sản phẩm của DA mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ) Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của DA không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do DA đem lại là duy nhất. Lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao, nhiệm vụ không lặp lại … (5) Môi trường hoạt động “va chạm” Quan hệ giữa các DA là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức.
DA“ Cạnh tranh” lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị … Một số trƣờng hợp, các thành viên QLDA thƣờng có hai thủ trƣởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó khăn không biết thực hiện QĐ nào của cấp trên khi hai lệnh mâu thuẫn nhau. (6) Tính bất định và độ rủi ro cao 9 z Hầu hết các DA đòi hỏi lƣợng tiền vốn, vật tƣ và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tƣ và vận hành kéo dài nên các DA đầu tƣ phát triển thƣờng có độ rủi ro cao. DA có những đặc trƣng sau: Thứ nhất, DA có mục đích, mục tiêu rõ ràng.
Mỗi DA thể hiện một hoặc một nhóm nhiệm vụ cần đƣợc thực hiện với một bộ kết quả xác định nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó. DA cũng là một hệ thống phức tạp nên cần đƣợc chia thành nhiều bộ phận khác nhau để thực hiện và QL nhƣng phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lƣợng cao. Thứ hai, DA có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Nghĩa là, giống nhƣ các thực thể sống, DA cũng trải qua các giai đoạn : hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc.
Thứ ba, DA liên quan đến nhiều bên và có sự tƣơng tác phức tạp giữa các bộ phận QL chức năng với QLDA … DA nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan nhƣ chủ đầu tƣ, ngƣời hƣởng thụ DA, các nhà tƣ vấn, nhà thầu, các cơ quan QL nhà nƣớc … Tuỳ theo tĩnh chất và yêu cầu của chủ đầu tƣ mà sự tham gia của các thành phần trên là khác nhau. Giữa các bộ phận QL chức năng và nhóm QL DA thƣờng xuyên có quan hệ lẫn nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhƣng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau. Vì mục tiêu của DA, các nhà QL DA cần duy trì thƣờng xuyên mối quan hệ với các bộ phận QL khác. Thứ tư, Sản phẩm của DA mang tình chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ).
Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của DA không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do DA đem lại là duy nhất. Lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao, nhiệm vụ không lặp lại … 10 z Thứ năm, Môi trƣờng hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các DA là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức.
DA “Cạnh tranh” lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị … Một số trƣờng hợp, các thành viên QL DA thƣờng có hai thủ trƣởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó khăn không biết thực hiện QĐ nào của cấp trên khi hai lệnh mâu thuẫn nhau. Thứ sáu, Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các DA đòi hỏi lƣợng tiền vốn, vật tƣ và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tƣ và vận hành kéo dài nên các DA đầu tƣ phát triển thƣờng có độ rủi ro cao.2 Phân loại dự án đầu tƣ Có nhiều cách phân loại DA khác nhau, tuỳ theo mục đích của công tác tổ chức, QL và KH hoá vốn đầu tƣ, ngƣời ta chọn các tiêu thức khác nhau để phân loại nhƣ sau: (1) Theo cơ cấu tài sản xuất, có DA đầu tƣ theo chiều rộng, DA đầu tƣ theo chiều sâu;(2) Theo các lĩnh vực hoạt động trong xã hội, có: DA đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh, DA đầu tƣ phát triển khoa học kỹ thuật, DA đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng; (3) Theo các giai đoạn hoạt động của các DA đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội có: DA đầu tƣ thƣơng mại, DA đầu tƣ sản xuất; (4) Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra có: DA đầu tƣ ngắn hạn, DA đầu tƣ dài hạn; (5) Theo sự phân cấp QLDA có: DA đầu tƣ nhóm A, DA đầu tƣ nhóm B, DA đầu tƣ nhóm C (Tùy vào từng ngành cụ thể mà phân loại DA theo nhóm dựa vào quy mô trình độ DA).
Ở Việt Nam theo NĐ 12/ NĐ CP ngày 12 tháng 2 năm 2009 của chính phú có các loại DA ĐT XD nhƣ sau ( xem bảng 1.1 Phân loại dự án đầu tƣ xây dựng công trình ST TỔNG MỨC LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH T ĐẦU TƢ TheoNghị quyết I Dự án quan trọng quốc gia số66/2006/QH11 của Quốc hội I Nhóm A Các dự án đầu tƣ xây dựng công trình: thuộc lĩnh vực Không kể mức 1 bảo vệ an ninh, quốc phòng có tính chất bảo mật quốc vốn gia, có ý nghĩa chính trị-xã hội quan trọng. Các dự án đầu tƣ xây dựng công trình: sản xuất chất Không kể mức 2 độc hại, chất nổ; hạ tầng khu công nghiệp vốn Các dự án đầu tƣ xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng Trên 1.500 tỷ 3 sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, đồng sân bay, đƣờng sắt, đƣờng quốc lộ), xây dựng khu nhà ở. Các dự án đầu tƣ xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông (khác ở điểm I - 3), cấp thoát nƣớc và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị Trên 1.000 tỷ 4 thông tin, điện tử, tin học, hoá dƣợc, thiết bị y tế, đồng công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bƣu chính, viễn thông. Các dự án đầu tƣ xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in, vƣờn quốc gia, khu bảo 5 Trên 700 tỷ đồng tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm, thuỷ sản.
Các dự án đầu tƣ xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng 6 khác (trừ xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác. 12 z II Nhóm B Các dự án đầu tƣ xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng Từ 75 đến 1.500 1 sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, tỷ đồng sân bay, đƣờng sắt, đƣờng quốc lộ), xây dựng khu nhà ở.