Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý đội ngũ giảng viên. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Chương 3: Các biện pháp hoàn thiện công tác quản lý đội ngũ giảng viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay. 10 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một loại hình hoạt động xã hội quan trọng của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Quản lý gắn liền với quá trình kinh tế – xã hội, nên trong thực tế đã nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Những quan điểm này có lịch sử ra đời khác nhau và gắn với mỗi tổ chức hoạt động trong một lĩnh vực, thậm chí với mỗi quá trình trong tổ chức.
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động quản lý, dưới đây là một số định nghĩa cơ bản: Theo tác giả Harold Koontz cho rằng: Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mẫn ít nhất. [17, 33] Tác giả Mary Parker Follett thì cho rằng: Quản lý là nghệ thuật đạt mục tiêu thông qua con người. [21, 17] Còn tác giả Henry Fayol lại cho rằng: Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nỗ lực của mỗi thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã định trước. [21, 17] Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến.
[32, 15] Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người 11 z quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Ngoài ra cũng có tác giả cho rằng quản lý là điều khiển con người và sự vật nhằm đạt mục tiêu đã định trước. Hay quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân lực, lãnh đạo và kiểm soát công việc, những nỗ nực của con người nhằm đạt được các mục tiêu đã vạch ra. Mặc dù các khái niệm quản lý đều được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, tuy nhiên tất cả các tác giả đều hướng tới vấn đề cốt lõi (nội hàm) của khái niệm quản lý để trả lời các câu hỏi: - Ai quản lý? (chủ thể quản lý) - Quản lý ai? quản lý cái gì? (khách thể quản lý) - Quản lý nhằm để làm gì? (mục tiêu quản lý) Tóm lại, quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý lên các khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu định trước.
Công cụ quản lý Chủ thể Khách thể Mục tiêu Mục tiêu quản lý quản lý quản lý quản lý Phương pháp quản lý Sơ đồ 1: Sơ đồ biểu diễn tác động của quá trình quản lý 12 z 1. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nên quản lý giáo dục được hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan. Quản lý giáo dục một bộ phận quản lý xã hội của nhà nước và là một khoa học tương đối độc lập. Có nhiều cách diễn đạt về quản lý giáo dục, dưới đây là một số cách định nghĩa cơ bản: Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và tới từng học sinh.
Nguyễn Ngọc Quang lại cho rằng: Quản lý giáo dục là hoạt động có mục đích có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. [33, 35] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. [1] Tóm lại, quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất. Chúng ta có thể hiểu các yếu tố trong định nghĩa về quản lý giáo dục là: - Chủ thể quản lý: chính là hệ thống quản lý từ cấp Trung ương đến cơ sở.
13 z - Khách thể quản lý: là hệ thống giáo dục quốc dân hay sự nghiệp giáo dục của địa phương. Quản lý giáo dục được xét ở hai cấp độ vĩ mô và vi mô: +Quản lý giáo dục (cấp độ vĩ mô): là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. [24, 36 - 37] + Quản lý giáo dục (cấp độ vi mô): là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, cán bộ nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. [24, 37-38] Như vậy, dù quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô, hay vi mô đều hướng tới việc sử dụng có hiệu quả những nguồn lực dành cho giáo dục để đạt kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất.
Chức năng quản lý Chức năng quản lý là những chức năng gắn liền với hoạt động quản lý của các chủ thể quản lý. Thực chất chức năng quản lý cũng chính là các dạng hoạt động tương đối độc lập được tách ra từ hoạt động quản lý. Có nhiều cách phân chia các chức năng quản lý nhưng tập trung 4 chức năng cơ bản và chủ yếu: kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo (chỉ đạo) và kiểm tra. Các chức năng quản lý còn được coi là những hoạt động nghiệp vụ đặc trưng của người quản lý.
- Chức năng kế hoạch hoá Đây là chức năng hoạch định, chức năng quan trọng nhất của người quản lý. Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định rõ mục tiêu, mục đích trong 14 z tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa là xác định và hình thành mục tiêu, xác định và đảm bảo các nguồn lực để đạt các mục tiêu đã đề ra; quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được những mục tiêu đó. Sản phẩm quan trọng của chức năng kế hoạch hóa là kế hoạch kế hoạch.
Kế hoạch được phân loại như sau: + Kế hoạch chiến lược (giải quyết các mục tiêu chiến lược) + Kế hoạch chiến thuật (giải quyết các mục tiêu chiến thuật) + Kế hoạch tác nghiệp (giải quyết các mục tiêu tác nghiệp) - Chức năng tổ chức Tổ chức chính là quá trình biến ý tưởng thành hiện thực. Xét về chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Hoạt động tổ chức, trước hết và chủ yếu là xây dựng cơ cấu tổ chức: Xác định các bộ phận cần có, thiết lập mối quan hệ ngang dọc của các bộ phận; xác định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, xây dựng quy chế hoạt động. Nếu tổ chức có tốt, người quản lý có thể phối hợp, điều hành tốt các nguồn lực tạo ra sự vận hành đồng bộ trong bộ máy của tổ chức, tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển tổ chức và đạt được các mục tiêu đề ra.
- Chức năng chỉ đạo Chỉ đạo là hoạt động dẫn dắt điều hành, điều khiển của người quản lý đối với các các hoạt động và các thành viên của tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý. Tức là sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu tổ chức bộ 15 z máy đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người lãnh đạo (nhà quản lý) dẫn dắt và điều khiển. Đó là quá trình tập hợp liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát bộ máy, điều khiển và hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lý, nhịp nhàng, động viên, khuyến khích người lao động đạt được mục tiêu của tổ chức. Muốn lãnh đạo chỉ đạo tốt không thể không hiểu biết con người, biết cách chỉ đạo, điều khiển con người để đạt kết quả mong muốn.
- Chức năng kiểm tra Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Có thể nói, không có kiểm tra là không có quản lý. Hoạt động kiểm tra trong quản lý là một hệ thống phản hồi, nó cho những thông tin đáng tin cậy nhất về tình hình, kết quả công việc, giúp người quản lý uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những vấn đề còn tồn tại, hạn chế, những sai lệch thiếu sót, khuyết điểm hoặc chỉ ra những quyết định mới phù hợp, có hiệu quả. Trong kiểm tra, cần chú ý ba yếu tố cơ bản: Xây dựng tiêu chí chuẩn thực hiện; đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với tiêu chuẩn; điều chỉnh hoạt động hoặc điều chỉnh kế hoạch, mục tiêu nếu có sự sai lệch hoặc sai lệch nghiêm trọng do các yếu tố khách quan tác động.