CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO LÃNH TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lí luận về bảo lãnh tiền vay 1. Một số khái niệm Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay.
Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay - Đây chính là quan hệ tín dụng. Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn. Một trong những hình thức cấp tín dụng phổ biến hiện nay chính là bảo lãnh hay bảo lãnh tiền vay. [3] Khái niệm bảo lãnh được quy định trong Điều 361, Bộ Luật Dân Sự năm 2005: Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Theo quy định tại điều 3 trong Thông tư số 28/2012/ TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 3 tháng 10 năm 2012: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận”. Biện pháp bảo lãnh không phải là hoạt động mới mẻ, biện pháp này xuất hiện từ rất lâu trong cuộc sống hằng ngày với khái niệm “lãnh nợ”, thường là bên thứ ba đứng ra bảo lãnh dựa trên mối quan hệ thân quen, ít khi nhận 5 van được quyền lợi gì từ bên được bảo lãnh, nhưng đến khi phải thực hiện nghĩa vụ thì sẽ bị thiệt hại về vật chất, dẫn đến người bảo lãnh thường thoái thác trách nhiệm. Tuy nhiên, đến khi ngân hàng coi bảo lãnh như là một nghiệp vụ kinh doanh thì đã tạo ra nhiều sự khác biệt.
Về nguyên tắc, ngân hàng vẫn là bên thứ ba trong giao dịch mua – bán giữa hai bên, nhưng đây là hoạt động kinh doanh nhà nghề, có thu phí. [3] Thêm nữa, khi ngân hàng phải thanh toán cho khách hàng, thì sẽ buộc khách hàng nhận nợ bắt buộc và khi đó, nghĩa vụ thanh toán trở thành khoản vay, ngân hàng có quyền thu nợ và được hưởng lãi suất từ khoản vay đó. Một khác biệt làm nên đặc thù của bảo lãnh ngân hàng nằm ở chính kỹ năng hoạt động của ngân hàng. Khi bảo lãnh trở thành nghiệp vụ ngân hàng, cả một hệ thống, quy trình, con người, công nghệ được vận dụng để thẩm định các điều kiện an toàn tài chính của bên được bảo lãnh.
Điều này khiến cho giao dịch trở nên an toàn hơn, mục đích của bảo lãnh là ngăn ngừa và hạn chế rủi ro phát sinh trong quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong nền kinh tế; đền bù những thiệt hại về phương diện tài chính cho người hưởng bảo lãnh khi có thiệt hại xảy ra. Tất cả tạo nên dịch vụ uy tín khác biệt, đồng thời khẳng định đẳng cấp của từng ngân hàng. Đặc điểm của bảo lãnh tiền vay 1. Bảo lãnh là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau Bảo lãnh không chỉ là mối quan hệ giữa hai bên mà là mối quan hệ tạo thành trong mối quan hệ nhiều bên bao gồm cả mối quan hệ hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, mối quan hệ hợp đồng bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh (ngân hàng).Trong một nghiệp vụ bảo lãnh thông thường có ba hợp đồng độc lập: - Hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh gọi là hợp đồng kinh tế (hợp đồng cơ sở).
Đây có thể là hợp đồng mua bán, hợp đồng xây dựng,… - Hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh (ngân hàng phát hành) gọi là hợp đồng bảo lãnh. [5] - Hợp đồng cam kết bảo lãnh giữa bên bảo lãnh (ngân hàng) và bên nhận bảo lãnh dưới hình thức thư bảo lãnh. [5] - Hợp đồng kinh tế là hợp đồng làm phát sinh hợp đồng bảo lãnh và hợp đồng cam kết bảo lãnh. Dù có sự phân chia song ba mối quan hệ này liên hệ lẫn nhau và có ảnh hưởng đến nhau.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu hợp đồng cơ sở phải 6 van thực hiện nghiêm túc, chỉ sau khi có sự thấu hiểu hợp đồng cơ sở, nếu chấp thuận thì công việc soạn thảo thư bảo lãnh mới được tiến hành. Bảo lãnh có tính độc lập so với hợp đồng Đây là đặc điểm có tính quan trọng nhất bởi nó độc lập so với hợp đồng cơ sở, nghĩa vụ thanh toán của bên bảo lãnh chỉ phụ thuộc vào các điều kiện bảo lãnh, khi bên nhận bảo lãnh xuất trình chứng từ phù hợp với điều kiện của bảo lãnh. Theo đó, bên bảo lãnh không bị ràng buộc với các điều kiện quy định trong hợp đồng cơ sở cũng như những tranh chấp phát sinh. Chức năng của bảo lãnh 1.
Chức năng bảo đảm Chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh là cung cấp một sự bảo đảm cho bên nhận bảo lãnh. Trong các giao dịch kinh tế, thương mại giữa các đối tác, đặc biệt là các đối tác nước ngoài, các bên tham gia ký kết hợp đồng không có sự hiểu biết lẫn nhau thì một trong những yêu cầu đầu tiên để ký hợp đồng là có sự đảm bảo của các ngân hàng ở các quốc gia khác nhau đã thiết lập quan hệ hoặc có đại lý tại nhiều nơi trên thế giới. Với chức năng này, bảo lãnh ngân hàng giúp các hợp đồng được ký kết thuận lợi hơn, mở rộng và tăng cường giao thương giữa các nước.[5] Theo chức năng này, bên nhận bảo lãnh sẽ nhận được sự bồi thường về mặt tài chính trong trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm cam kết. Tuy nhiên, bên nhận bảo lãnh chỉ được phép đòi tiền theo thư bảo lãnh nếu xuất trình được những chứng từ cần thiết theo đúng các điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh.
Chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng Do chịu trách nhiệm thực hiện cam kết nên ngân hàng phát hành bảo lãnh cũng thường xuyên kiểm tra, giám sát, tạo áp lực thực hiện hợp đồng, giảm thiểu vi phạm của bên được bảo lãnh. Tuy được đảm bảo sẽ nhận được khoản tiền bồi thường nhưng ngay cả bên nhận bảo lãnh cũng muốn hoàn tất hợp đồng suôn sẻ mà không mong có những vi phạm xảy ra. Bảo lãnh mang ý nghĩa ràng buộc đốc thúc hơn là nghĩa vụ bảo đảm bồi hoàn. Chức năng tài trợ Trong rất nhiều trường hợp, nhờ có bảo lãnh ngân hàng mà bên được bảo lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợ hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ… Mặc dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với việc phát hành bảo lãnh, ngân hàng đã giúp cho khách hàng của họ được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi được cho vay thực sự.
Với ý nghĩa này, bảo lãnh ngân hàng được coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu về phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt căng thẳng về nguồn vốn cho doanh nghiệp. Vai trò của bảo lãnh tiền vay Theo như phân tích ở trên đã đề cập đến ba chức năng cũng chính là công dụng của bảo lãnh. Nếu xét riêng rẽ, các chủ thể trong bảo lãnh có động cơ tham gia và được hưởng lợi ích khác nhau từ dịch vụ này. Như vậy vai trò của bão lãnh là khác nhau đối với các bên tham gia.
Bảo lãnh không chỉ là một hoạt động tạo sự phát triển của ngân hàng mà còn có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Đối với doanh nghiệp Với bên nhận bảo lãnh: Trong nền kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì mặc dù phải đối đầu với rủi ro nhưng nếu không nắm bắt một cách kịp thời các cơ hội kinh doanh, các doanh nghiệp cũng khó cạnh tranh và tồn tại được. Bảo lãnh giúp doanh nghiệp yên tâm và thực hiện hợp đồng giảm thời gian và chi phí. Mặt khác bảo lãnh ngân hàng còn giúp doanh nghiệp chọn được đối tác tốt và giảm rủi ro kinh doanh.
Nếu có rủi ro xảy ra, bên nhận bảo lãnh vẫn được đảm bảo bù đắp thiệt hại do đối tác vi phạm hợp đồng một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất để tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình.[5] Với bên được bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng giúp các doanh nghiệp có thể ký kết và thực hiện hợp đồng ngay cả khi chưa đủ uy tín và lòng tin đối với bên đối tác. Bảo lãnh còn giúp doanh nghiệp nhận được nguồn tài trợ từ đối tác (đối với bảo lãnh ứng tiền trước), hoặc từ các tổ chức tín dụng khác (bảo lãnh vay vốn), lúc đó sẽ 8 van giúp các doanh nghiệp có đủ khả năng tài chính để thực hiện hợp đồng, tham gia giao dịch và ký kết hợp đồng. Bảo lãnh giúp doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với hợp đồng, tiết kiệm được khoản vay vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong khi chỉ phải chịu một khoản phí tương đối thấp.[5] Với chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng thì bảo lãnh ngân hàng cũng tham gia vào việc giám sát các doanh nghiệp có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện hợp đồng.