CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp “Phân tích tài chính doanh nghiệp là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và trong quá khứ của doanh nghiệp nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai của một doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp cho nhà phân tích ra các quyết định tài chính có liên quan tới lợi ích của họ trong doanh nghiệp đó. Phân tích tài chính doanh nghiệp trước hết tập trung vào các số liệu được cung cấp trong các BCTC của doanh nghiệp, kết hợp với các thông tin bổ sung từ các nguồn khác nhau, làm rõ tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, chỉ ra những thay đổi chủ yếu, những chuyển biến theo xu hướng, tính toán những nhân tố, những nguyên nhân của sự thay đổi trong các hoạt động tài chính, phát hiện những quy luật của các hoạt động, làm cơ sở cho các quyết định hiện tại và những dự báo trong tương lai”. (Lê Thị Xuân, 2018) Nguyễn Diễm (2021) cho rằng: Phân tích Tài chính doanh nghiệp là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính để có thể đánh giá tình hình Tài chính doanh nghiệp thông qua việc so sánh với các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra hoặc so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, từ đó đưa ra quyết định và các giải pháp quản lý phù.
Phạm Trà (2022) cho rằng: Phân tích tài chính doanh nghiệp được hiểu cơ bản chính là quá trình sử dụng các kỹ thuật phân tích một cách thích hợp để nhằm mục đích có thể xử lý tài liệu từ báo cáo tài chính và các tài liệu cụ thể khác, hình thành lên một hệ thống các chỉ tiêu tài chính nhằm từ đó sẽ có thể đánh giá được thực trạng tài chính và cũng như đưa ra những dự đoán tiềm lực tài chính của doanh nghiệp trong tương lai. 6 Các khái niệm mà các tác giả này đưa ra dựa trên các cách tiếp cận khác nhau về PTTC khách hàng DN nhưng nhìn chung đều hướng tới một mục đích là có thể hiểu rõ hơn về tình hình tài chính của DN và đưa ra dự báo trong tương lai. Như vậy, phân tích tài chính DN là một quá trình thông qua việc xem xét, xử lý các số liệu trong quá khứ để dự đoán về tình hình tài chính trong tương lai của DN cũng như những rủi ro mà DN phải đối mặt. Mục tiêu và vai trò của PTTC khách hàng DN trong hoạt động tín dụng PTTC đối với những khoản cho vay dài hạn khác với những khoản cho vay ngắn hạn.
Nếu trước quyết định cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngắn hạn của DN, thì trước quyết định cho vay dài hạn, người cho vay lại đặc biệt quan tâm đấy khả năng sinh lời từ HĐKD của DN (Lê Thị Xuân, 2018). Nguyễn Diễm (2021) cho rằng: Những nhà cung cấp tín dụng lại quan tâm đến khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp. Các nhà cung cấp tín dụng ngắn hạn thường quan tâm đến khả năng thanh toán nhằm đáp ứng những yêu cầu chi trả trong thời gian ngắn của doanh nghiệp. Còn những nhà cung cấp tín dụng dài hạn quan tâm đến khả năng trả lãi và gốc đúng hạn, do đó, ngoài khả năng thanh toán, họ còn quan tâm đến khả năng sinh lời cũng như tính ổn định của doanh nghiệp.
Từ đó, việc phân tích Tài chính doanh nghiệp góp phần giúp những nhà cung cấp tín dụng đưa ra quyết định về việc có nên cho vay hay không? Vay trong bao lâu và vay bao nhiêu? Phạm Hạnh (2019) cho rằng: Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro. Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay.
7 Hoạt động PTTC khách hàng DN giúp cho NHTM hiểu rõ về tình hình tài chính của DN, đảm bảo cho các khoản cho vay được an toàn và thu hồi đúng hạn, gia tăng tính chính xác và hiệu quả về công tác tín dụng của NHTM. Nguồn tài liệu sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quy trình PTTC doanh nghiệp là thu thập và xử lý thông tin làm cơ sở cho công tác phân tích. Thông tin sử dụng trong PTTC khách hàng DN được chia thành thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Thông tin tài chính là nguồn thông tin cơ bản và thường được lấy trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Có được nguồn thông tin thích hợp, đáng tin cậy là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng công tác PTTC doanh nghiệp. BCTC có vai trò quan trọng đối với quá trình phân tích tài chính. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam gồm có 4 BCTC: Bảng CĐKT, Báo cáo kết quả HĐKD, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC. Bảng cân đối kế toán Bảng CĐKT là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Bảng CĐKT cung cấp thông tin về toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành tài sản đó của DN tại thời điểm lập báo cáo. Căn cứ vào bảng CĐKT có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN như cơ cấu tài sản, năng lực hoạt động của tài sản, cơ cấu nguồn vốn, khả năng tự chủ tài chính, khả năng thanh toán các khoản nợ. Kết cấu của bảng CĐKT gồm 2 phần là tài sản và nguồn vốn, được bố trí theo chiều dọc bao gồm hệ thống các chỉ tiêu phản ánh nội dung từng khoản vốn, nguốn vốn hiện có tại thời điểm báo cáo. Các chỉ tiêu được sắp xếp thành từng mục, khoản theo một trình tự khoa học phù hợp với yêu cầu quản lí.
Các khoản mục tài sản và nợ phải trả phải được trình bày riêng biệt thành ngắn hạn và dài hạn, tuỳ theo thời hạn của chu kỳ kinh doanh bình thường của DN. Phần tài sản: gồm các chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị các tài sản hiện có của DN tại thời điểm báo cáo theo kết cấu tài sản và hình thức tồn tại của nó. 8 Phần nguồn vốn: gồm các chỉ tiêu phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo. Báo cáo kết quả HĐKD Báo cáo kết quả HĐKD là một báo cáo tài chính phản ánh tình hình và các kết quả hoạt động của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định bao gồm kết quả kinh doanh và kết quả hoạt động khác.
Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của BCTC, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình HĐKD của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai; dùng để kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và nhứng tác động của thay đổi giá cả.
Doanh nghiệp phải trình bày các luồng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo 3 loại hoạt động: HĐKD, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính. Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền phát sinh từ các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác không phải là các hoạt động đầu tư hay tài chính. Luồng tiền từ hoạt động đầu tư là luồng tiền phát sinh từ các hoạt động mua sắm, xây dựng, thanh lý, nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền. 9 Luồng tiền từ hoạt động tài chính là luồng tiền phát sinh từ các hoạt động tạo ra các thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp.
Thuyết minh BCTC Thuyết minh BCTC là một bộ phận hợp thành hệ thống BCTC của doanh nghiệp, dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin, số liệu đã được trình bày trên bảng CĐKT, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể. Bản thuyết minh BCTC phải được trình bày một cách có hệ thống. Mỗi khoản mục trong bảng CĐKT, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ cần được đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong bảng thuyết minh BCTC.