phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý phòng, chống hàng giả Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý phòng, chống hàng giả tại Cục Quản lý thị trƣờng tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phòng, chống hàng giả tại Cục Quản lý thị trƣờng tỉnh Thanh Hóa 4 Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC PHÕNG, CHỐNG HÀNG GIẢ 1. Khái quát chung về hàng giả 1.1 Khái niệm và phân loại hàng giả 1.
Khái niệm Hàng giả là hiện tƣợng kinh tế xã hội, là một thuật ngữ để phân biệt với hàng thật. Ở Việt Nam theo mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, hàng giả là vấn đề luôn phải đƣợc quan tâm, giải quyết do nền kinh tế thị trƣờng với mục tiêu lợi nhuận, mà hàng giả với lợi nhuận lớn tồn tại cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Trong lý luận và thực tiễn hiện tồn tại nhiều quan niệm về hàng giả. Trƣớc hết, tìm hiểu khái niệm về hàng hoá và thế nào là giả: “Hàng hoá là sản phẩm dùng để thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngƣời và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi”, còn “Giả có nghĩa không phải là thật mà đƣợc làm với bề ngoài giống nhƣ cái thật để ngƣời khác tƣởng là thật”.
Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ: “Hàng giả là hàng làm bắt chƣớc theo mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang đƣợc lƣu hành, nhƣng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn. Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi. Ngƣời làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt ngƣời mua” [11]. Khái niệm này chỉ giải thích về mặt ngôn ngữ, mà chƣa phải là khái niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả.
Dƣới góc độ pháp lý, khái niệm hàng giả lần đầu tiên đƣợc sử dụng kể từ khi đất nƣớc đƣợc thống nhất là trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu lậu cơ, buôn, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 [12]. Điều 5 của Pháp lệnh này quy định về Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả, với hình phạt 5 có thể lên đến tù chung thân. Tuy nhiên, đến thời điểm ban hành văn bản này, khái niệm hàng giả vẫn chƣa đƣợc làm rõ. Bộ luật Hình sự đầu tiên của nƣớc Việt Nam thống nhất ban hành năm 1985 quy định Tội làm hàng giả, Tội buôn bán hàng giả tại Điều 176, thuộc nhóm Tội kinh tế.
Mặc dù có quy định chi tiết hơn, có chế tài nghiêm khắc hơn Điều 5 của Pháp lệnh năm 1982, Điều 176 của Bộ luật hình sự năm 1985 không đƣa ra định nghĩa về hàng giả. Văn bản pháp luật đầu tiên định nghĩa về hàng giả là Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trƣởng quy định về việc kiểm tra, xử lý hoạt động sản xuất buôn bán hàng giả. Điều 3, Nghị định quy định: “Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá đƣợc sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống nhƣ những sản phẩm, hàng hoá đƣợc Nhà nƣớc cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trƣờng; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”[10]. Sau một thời gian dài chuẩn bị, đến ngày 15/11/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ ngƣời tiêu dùng [9] đã đƣợc sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ.
Và mới nhất là Nghị Định số 98/2020/NĐ- CP ngày 26/8/2020 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng thì hàng giả bao gồm các loại sau đây: Theo Khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng thì hàng giả bao gồm các loại sau đây: (i) Hàng giả giá trị sử dụng, công dụng: Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; 6 Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký theo quy định của pháp luật. Về chất chính tạo nên hàng hóa: Hàng hóa giả có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lƣợng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lƣợng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lƣợng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa của các hàng hóa đạt chuẩn. Thuốc giả và dƣợc liệu giả theo quy định của Luật Dƣợc 2016: Trong đó thuốc giả đƣợc sản xuất không có dƣợc chất, dƣợc liệu; có dƣợc chất không đúng với dƣợc chất tiêu chuẩn; có dƣợc chất, dƣợc liệu nhƣng không đúng hàm lƣợng, nồng độ hoặc khối lƣợng đã đăng ký hoặc thuốc đƣợc sản xuất, trình bày hoặc dán nhãn nhằm mạo danh nhà sản xuất, nƣớc sản xuất hoặc nƣớc xuất xứ. Dƣợc liệu giả là dƣợc liệu không đúng loài, bộ phận hoặc nguồn gốc đƣợc cơ sở kinh cố ý ghi trên nhãn hoặc ghi trong tài liệu kèm theo nhằm trục lợi hoặc dƣợc liệu bị cố ý trộn lẫn hoặc thay thế bằng thành phần không phải là dƣợc liệu.
Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất theo quy định đối với thuộc hoặc không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký. Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lƣu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả bao gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lƣợng, dấu chất lƣợng, tem truy xuất nguồn gốc, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của tổ chức, cá 7 nhân kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại, tên thƣơng phẩm, mã số mã vạch, mã số đăng ký lƣu hành, mã số công bố của hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác. (ii) Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; (iii) Tem, nhãn, bao bì giả gồm: đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lƣợng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại, tên thƣơng phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác. Phân loại Theo Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thƣơng mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng “Hàng giả” gồm: (i) Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; (ii) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lƣợng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; (iii) Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho ngƣời, vật nuôi không có dƣợc chất; có dƣợc chất nhƣng không đúng với hàm lƣợng đã đăng ký; không đủ loại dƣợc chất đã đăng ký; có dƣợc chất khác với dƣợc chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; 8 (iv) Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lƣợng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lƣợng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; (v) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thƣơng nhân, địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại hoặc tên thƣơng phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác; (vi) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; (vii) Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; (viii) Tem, nhãn, bao bì giả: “Tem, nhãn, bao bì giả” gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lƣợng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thƣơng nhân khác; giả mạo tên thƣơng mại, tên thƣơng phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lƣu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thƣơng nhân khác.
Hàng giả có thể chứa một hoặc nhiều dấu hiệu giả nhƣ trên. Ví dụ nhƣ vừa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa vừa giả chất lƣợng. Đối với quốc tế không quy định cụ thể về hàng giả, thay vào đó là quy định về quyền sở hữu trí tuệ.