chương ITO đã cho thấy những bất đồng sâu sắc giữa Mỹ, Tây Âu với các nước đang phát triển về mục tiêu và (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 9 những ưu tiên của ITO. Trong khi mục tiêu quan trọng nhất của Mỹ là mở cửa thị trường các nước Tây Âu và Nhật Bản, nhất là hạn chế đến mức tối đa các háng rào thuế quan, tự do hoá thương mại trên cơ sở bình đẳng và tối huệ quốc thì các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Libăng. lại cương quyết chống lại các điều khoản tối huệ quốc vì cho rằng các điều khoản này sẽ đặt những nước trên rơi vào thế bình đẳng trên danh nghĩa nhưng lại bất bình dẳng trên thực tế. Chính những mâu thuẫn trên đã khiến cho Hiến chương La Havana không bao giờ có hiệu lực và ITO cũng không bao giờ ra đời.
Tuy nhiên, song song với các vòng đàm phán cho việc ra đời ITO, thì tại Genever, ngày 30/10/1947, đại diện của 23 nước đã đi đến một thoả thuận cắt giảm thuế quan đối với một nửa số hàng hoá trong thương mại quốc tế, đồng thời đã ký kết Nghị định thư áp dụng tạm thời “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại”, gọi tắt là GATT 1947. Chính việc Hiến chương La Havana không được phê chuẩn, nên Hiệp định GATT với 38 điều đã được các nước áp dụng “tạm thời” trong hơn 40 năm như là một Hiệp định đa phương duy nhất điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế. Sau gần nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, GATT đã trở thành một thể chế và pháp lý của nền thương mại quốc tế cũng như đã trở thành thể chế mậu dịch đa phương quản lý và điều hành hoạt động mậu dịch của các nước sau khi tiến trình thành lập Tổ chức Mậu dịch quốc tế bị đứt quãng. Tuy chỉ là một bản hiệp định mang tính tạm thời song nó lại có tác dụng rất lớn trong việc đảm bảo và thúc đẩy sự phát triển của nền mậu dịch quốc tế sau chiến tranh.
GATT đã trở thành “nôi đàm phán” của mậu dịch quốc tế, phát động và thúc đẩy tiến trình tự do hoá mậu dịch giữa các nước, là nơi giải quyết các tranh (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 10 chấp quốc tế, điều hoà những mâu thuẫn và va chạm về mậu dịch quốc tế giữa các nước. GATT đã thông qua những chế độ và cơ chế về mậu dịch của các nước đang phát triển, có một tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy sự phát triển về kinh tế và mậu dịch của các nước đang phát triển. Hàng năm các thành viên nhóm họp để vạch ra chính sách cơ bản của GATT, mỗi quốc gia thành viên có một phiếu. Chế độ đa phiếu được tôn trọng nhằm tránh việc rời xa các nghĩa vụ cụ thể mà GATT qui định.
Các tiểu ban hoà giải được xác lập nhằm giải quyết các tranh chấp trong thương mại. Từ năm 1947 đến năm 1994, đã có 8 vòng đàm phán thương mại đa phương được tiến hành trong khuôn khổ GATT 1947. Nội dung của các vòng đàm phán đã được mở rộng từ cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan đến cải cách hệ thống pháp lý, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT. Nhưng do trào lưu toàn cầu hoá kinh tế diễn ra ngày càng nhanh, mạnh và sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên GATT đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế.
Điều này chủ yếu biểu hiện ở những điểm sau: Về vị trí, GATT chỉ là một bản hiệp định mang tính tạm thời chứ không phải là một tổ chức quốc tế chính thức, không có tư cách chủ thể luật quốc tế. Vị trí không chính thức này của GATT đã gây trở ngại cho nó trong việc tiến hành các hoạt động thông thường, hạn chế nó trong việc phát huy chức năng của mình, làm giảm bớt quyền lực của nó với tư cách là một tổ chức quản lý và điều hoà các hoạt động mậu dịch quốc tế.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 11 Phạm vi quản lý của GATT quá nhỏ hẹp vì chỉ hạn chế ở lĩnh vực mậu dịch và kinh tế, mậu dịch dịch vụ phát triển hết sức nhanh chóng, ngày càng đóng vai trò quan trọng. Hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế thế giới ngày càng mang đặc trưng của nền kinh tế tri thức, làm thế nào để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại quốc tế đã trở thành một chủ đề quan trọng. Rõ ràng là thể chế GATT như vậy rất khó có thể đáp ứng nhu cầu phát triển mậu dịch và kinh tế quốc tế.
Quy tắc của GATT rất không chặt chẽ, còn nhiều kẽ hở. Điều này chủ yều thể hiện ở những điểm: thứ nhất, nội dung của rất nhiều qui tắc trong GATT còn mơ hồ, thiếu những tiêu chuẩn rõ ràng; thứ hai, còn nhiều khoản ngoại lệ; thứ ba, còn tràn lan nhiều biện pháp “Khu vực xám” như hạn chế xuất khẩu tự nguyện, sắp xếp có trật tự. Chẳng hạn, ở nguyên tắc “không phân biệt đối xử” được thể hiện trong điều khoản “tối huệ quốc”, theo đó không ưu đãi mậu dịch đối với bất kỳ quốc gia nào hơn so với những thành viên khác ký kết GATT. Nhưng trong các khu vực mậu dịch tự do (còn gọi là liên minh thuế quan – Customs Unions) thì các thành viên trong khu vực hoặc trong liên minh điều được ưu đãi hơn.
Hay ở nguyên tắc “cấm trợ cấp cho xuất khẩu” có nghĩa là các nhà sản xuất nội địa không được hưởng những lợi ích hoặc ưu đãi nào khiến họ chiếm ưu thế trên thị trường nước ngoài. Ngoại lệ của nguyên tắc này dành cho mặt hàng nông sản. Ngoài mặt hàng nông sản ra, nếu có trợ cấp ưu đãi khác thì các nước được quyền áp dụng chính sách thuế quan phân biệt đối xử nhằm làm đối trọng với những trợ cấp này, gọi là thuế quan bù trừ. Những hạn chế trên đây trong các qui tắc của GATT đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính quyền uy và tính hiệu quả của thể chế mậu dịch đa phương, nếu kéo dài sẽ gây biến động trong toàn bộ thể chế của GATT.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 12 Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT còn tồn tại nhiều hạn chế nghiêm trọng.
Biểu hiện chủ yếu: quyền lực tổ chức, nhóm chuyên gia rất nhỏ, quá trình giải quyết tranh chấp quá dài, sau khi kiểm tra, giám sát không có hiệu lực. Đặc biệt là nguyên tắc “toàn thể nhất trí đồng ý” mà GATT sử dụng để giải quyết tranh chấp, nguyên tắc khắt khe này đã dẫn đến hiện tượng kết quả giải quyết tranh chấp của GATT không thể thực thi có hiệu quả. Như vậy, khi nước thành viên, nhất là những nước thành viên có qui mô mậu dịch và thực lực kinh tế hùng hậu vi phạm các nguyên tắc mậu dịch đa phương đã không bị trừng phạt một cách đích đáng, do vậy thường xuyên đặt toàn bộ thể chế mậu dịch đa phương trước nguy cơ tan rã. Đứng trước những hạn chế nội tại không thể giải quyết của GATT và để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn cầu hoá mậu dịch và kinh tế quốc tế ngày càng phức tạp, các bên tham gia vòng đàm phán Urugoay (1986 – 1993, 123 nước) đã đi đến thống nhất quyết định thành lập một thể chế mậu dịch đa phương mới - Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization – WTO) vào ngày 01/01/1995.
WTO có trụ sở tại Geneva và Tổng cán sự đầu tiên là ông R.Ruggiero, người Italia. Ngày 31/12/1994, các nước và khu vực tham gia GATT trước đây sau khi đồng loạt tiếp nhận bản Hiệp định đàm phán Urugoay đã trở thành các bên đầu tiên tham gia ký kết điều ước của WTO. WTO là tổ chức quốc tế lớn nhất và đầu tiên trong việc thiết lập các thoả thuận và cam kết chung trên qui mô toàn cầu trong lĩnh vực thương mại và phát triển kinh tế nói chung. WTO ra đời đã đánh dấu sự ra đời của một thể chế mậu dịch đa phương mới, từ đó, mậu dịch quốc tế đã bước vào một thời đại mới - thời đại của WTO.Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của WTO (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Mục tiêu của WTO WTO có 3 mục tiêu sau: Thúc đẩy tăng trưởng hàng hoá và dịch vụ trên thế giới, phục vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường.
Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế; đảm bảo cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng.Các nguyên tắc hoạt động của WTO Về phương diện pháp lý, định ước cuối cùng của vòng đàm phán Urugoay ký ngày 15/04/1999 tại Marrakesh là một văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh rộng lớn nhất và có tính chất kỹ thuật pháp lý phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao và luật pháp quốc tế. Về dung lượng, các Hiệp định được ký tại Marrakesh và các phụ lục kèm theo bao gồm 50.000 trang, trong đó riêng 500 trang quy định về các nguyên tắc và nghĩa vụ pháp lý chung của các nước thành viên như sau: Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới; 20 Hiệp định đa phương về thương mại hàng hoá; 04 Hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, kiểm điểm chính sách thươnng mại; 04 Hiệp định nhiều bên về Hàng không dân dụng, mua sắm của Chính phủ, sản phẩm sữa và sản phẩm thịt bò; 23 tuyên bố và quyết định liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thoả thuận trong vòng đàm phán Urugoay; (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 14 Tổ chức thương mại quốc tế được xây dựng trên nền tảng 4 nguyên tắc pháp lý cơ bản là: tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng. Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) Tối huệ quốc, viết tắt theo tiếng Anh là MFN ( Most Favoured Nation), là nguyên tắc pháp lý quan trọng của WTO.