Ộ BỘ TƯ PHÁP ; TRUONG DAI HOC LUAT HA NOI Đề tài nghiên cứu khoa hoc cấp trường: CẢI CÁCH BỘ MAY QUAN LÝ- MOT DONG LỰC PHAT TRIEN CUA TRUONG DAI HOC LUAT HA NOI Ha nội nam 2011 DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA DE TÀI 1-TS.GVC Nguyễn Thị Hiền, Khoa LLCT- Chủ nhiệm dé tài 2-PGS. Nguyễn Thị Hồi Khoa HC — NN, thành viên 3-TS. Tô Văn Hòa- Giám đốc trung tâm Nghiên cứu về Tổ chức bộ Máy Nhà nước, thành /ên |-TS. GVC Lê Thanh Thập- Khoa LLCT, thành viên -TS.
Nguyễn Xuân Thu, Phó phòng Hành chính tổng hợp, thành viên Thạc sỹ Trần Thi Xuân Trưởng Phòng Té chức cán bộ, thành viên -CN. Hà Thị Ngọc Lan -P.Trưởng phòng Công tác sinh viên, thành viên \-CN. Bùi Mạnh Hùng- Chuyên viên phòng Tổ chức cán bộ, thành viên MỤC LỤC. Số Tác giả Tên chuyên để | Trang TT | | TS.
Nguyễn Thị Hién- | Bản thuyết minh dé tai “Cải cách bộ máy quản ly- | 1-10 GVC, Chủ nhiệm đề tài Một động lực phát triển của Trường đại học Luật Hà Nội 2 |TS. Nguyên Thị Hién- | Bản phúc trình đê tài “Cải cách bộ máy quản lý- | 11-32 GVC, Chủ nhiệm đề tài Một động lực phát triển của Trường đại học Luật Hà Nội - 3 TS. Lê Thanh Thập - | Sự cần thiệt, điêu kiện và khả năng thực hiện cải | 33-40 GVC khoa LLCT cách bộ máy quản lý của Trường đại học Luật Hà Nội hiện nay. Nguyễn Xuân Thu - | Co sở pháp lý về td chức và quản lý trường đại | 41-66 Phó trưởng phòng | học- Một đơn vị sự nghiệp công lập công lập có thu.
Tó Văn Hoa- Giám | Cơ cau tô chức của một số cơ sở đào tao đại học | 67-81 độc trung tam NC vê | luật ở nước ngoài và Việt Nam TCBMNN và T8. Nguyên Thị Hiên - GVC khoa LLCT 6 |TS. Nguyên Thị Hién- | Câu trúc bộ máy quan lý của Trường đại học luật | 82-113 GVC khoa LLCT. Hà Nội phục vụ cho đào tạo theo tín chỉ, hướng tới trường trọng điểm và đảo tạo đa ngành.Mguyên Thị Hién- Đánh giá lợi ich trong việc cải cách bộ máy quan lý | 114- GVC Khoa LLCT của Trường đại học luật Hà Nội.
129 8 |Ha Thi Ngọc Lan| Bộ máy quản lý người hoc ở Trường dai học luật | 130- P.Trưởng phòng CTSV | Hà Nội thực hiện dao tao theo tín chỉ, hướng tới | 148 và TS. Nguyên Thị | trường trọng điểm và đào tạo đa ngành. Ị Niên -GVC Khoa i LLCT j 9 Bộ máy quan lý giảng viên của Trường đại học | 149- i PGS.NguyénThi Hoi Luật Ha Nội — Thực trang va giải pháp. 161 ore Khoa HC - NN I0 | Thạc sỹ Trần Thị Xuân | Bộ máy quan lý cap phòng ở Trường dai học Luật | 162- 4 Trưởng Phòng TCCB | Hà Nội -Thực trang va giải pháp.
185 i va CN Bui Manh Hing Ệ ae TS.Nguyén Thị Hién-| Quy tắc vận hành của bộ máy quản lý Trường đại | 186- GVC khoa LLCT học Luật Hà Nội thực hiện đào tạo theo tín chỉ, | 206 hướng tới xây dựng trường trọng diém và dao tạo đa ngành. Nguyên Thị Hiển- | Nội dung chủ yêu của quy chế chỉ tiêu nội bộ dam | 207- GVC Khoa LLCT bảo nguyên tắc tài chính của một đơn vị sự nghiệp | 2!9 công lập có thu ở Trường đại học Luật Hà Nội. Lê Thanh Tháp- | Cải cách bộ máy quan lý ở Trường đại học Luật Hà | 220- GVC Khoa LLCT Nội - Một bộ phận cấu thành của sự nghiệp cải | 739 cách giáo dục đại học, cải cách tư pháp và đôi mới đât nước ở Việt Nam. 14 | Phụ lục 1 Kết quả thăm dò ý kién theo mau số | (Dành cho sinh viên chính quy) 1S | Phụ lục 2 Kết quả thăm dò ý kiến theo mẫu số 2 (Dành cho học viên cao học) l6 | Phụ lục 3 Kết quả thăm dò ý kiến theo mẫu sô 3 (Dành cho sinh viên tại chức) 17 | Phụ lục 4 Kết quả thăm dò ý kiến theo mẫu sô 4 (Dành cho cán bộ, giáo viên) THUYET MINH DE TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Tên dé tài: Cải cách bộ máy quản lý- Một động lực phat triển của Trường đại học Luát Hà Nội.
I-TINH CAP THIET CUA DE TÀI. Cho đến nay bộ máy quản lý và nguyên tắc hoạt động của Trường đại học Luật Hà Nội về cơ bản là bộ máy quản lý và nguyên tắc hoạt động đã có từ cách đây 30 năm. Đây cũng là bộ máy quản lý và cách thức quản lý của hầu hết các trường đại học, đặc biệt là các trường đại học trong khối xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong những năm 1960-1970 của thế kỷ XX. Những năm 1960-1975, đất nước đang có chiến tranh, hầu hết các trường đại học Việt Nam có quy mô đảo tạo nhỏ bé và tat cả đều tổn tại trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp.
Vì vậy các trường đại học được thành lập trong thời gian đất nước có chiến tranh có bộ máy vừa phù hợp của cơ chế bao cấp, vừa phù hợp với điều kiện thời chiến. Trường đại học Luật Hà Nội được thành lập ngày 10 tháng 11 năm 1979. Về lịch sử, nét khác biệt của đại học Luật Hà nội so với các trường đại học được thành lập trước tháng 2 năm 1979 là nó được thành lập trong điều kiện đất nước có hòa bình. Nhưng do được thành lập khi đất nước vừa ra khỏi chiến tranh và trong điều kiện cơ chế quản lý bao cấp nên tư duy quản lý, bộ máy quản lý và quy tắc vận hành vẫn được xác lập theo mô hình và kinh ngiệm của các trường đại học đang hoạt động lúc đó.
Đó cũng là thời kỳ các điều kiện về giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. ở Việt Nam nói chung và tại thủ đô Hà Nội nói riêng vừa thiếu, vừa yếu. Trong hơn 30 mam tôn tại và phát triển, qua nhiều giai đoạn, bộ máy quản lý và tư duy quan lý của Trường đại học Luật Hà Nội cũng có những thay đổi nhất định. Những thay đổi đó đã đem lại những thành tích, những bước phát triển của trường và thé hiện rõ nhất là những thành tích đạt được như trong thập kỷ 90.
Bước vào thế kỷ XXI, đặc biệt khi áp dụng phương thức đào tạo mới- đảo tạo theo tín chỉ, các hoạt động của nhà trường dường như phát triển chậm lại, thậm chí có những hoạt động tam dừng. Sự trì trệ đó do tác động của nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân căn bản xuất phát từ sự bất cập của bộ máy quản lý và quy tắc vận hành của nó. Những thay đổi trong bộ máy của trường mang tính chi tiết, bộ phận như trái nghiệm những năm trước ngày càng tỏ rõ sự không phù hợp. Bộ máy quản lý và quy tắc vận hành truyền thống cộng với những thay đổi mang tính “chắp vá” ngày càng tách rời sự hoạt động của nhà trường, của các hoạt động dạy và học.
Trong vòng 2 năm gần đây khi những điều kiện và hoan cảnh mới xuất hiện cùng những yêu cầu mới về nhiệm vụ của sự nghiệp giáo dục và đào tạo thì bộ máy quản lý của Trường đại học Luật Hà Nội càng tỏ rõ sự bất cập. Xét về hoàn cảnh, hoàn cảnh mới đó là cơ chế quản lý thị trường đã gần như thay thế cơ chế quản lý tập trung bao cấp trong đời sống kinh tế của quốc gia. Trong lĩnh vực giáo dục đại học, các trường đại học (trong đó có Trường đại học Luật Hà Nội) không phải là một đơn vị hành chính sự nghiệp như trước mà là đơn vị hành chính sự nghiệp có thu. Ngoài khoản thu từ ngân sách nhà nước cấp và được chi theo quy định của các Bộ, tùy nỗ lực trong các hoạt động cung cấp dịch vụ giáo dục — đảo tạo và các dịch vụ khác, các trường còn có thu nhập khác và được chủ động chi tiêu, phục vụ các hoạt động của nhà trường theo Quy chế chi tiêu của mỗi trường.
Thu nhập của cán bộ, viên chức mỗi trường cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào sự năng động của bộ máy quản lý; môi trường cạnh tranh buộc mỗi trường phải tính toán hiệu quả và kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế (lợi ích chung của trường, lợi ích của từng cá nhân, lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn). Xét về diéu kiện hoạt động, mọi điều kiện con người, điều kiện vật chất của Trường đại học Luật Hà Nội hiện nay so với những năm cudi của thé ky XX cũng 2 có những thay đổi căn bản. Trước hết là đội ngũ cán bộ, giảng viên vừa đông về số lượng vừa có trình độ cao hơn trước. Phần lớn giảng viên có trình độ sau đại học, số lượng giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư cũng ngày càng tăng.
Số lượng và trình độ của cán bộ, viên chức trong khu vực dao tạo gián tiếp cũng ngày càng tăng. Điều kiện hoạt động của các trường còn phải kể đến điều hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc trong trường, ngoai trường; trong nước, ngoài nước đã thuận lợi hơn trước rất nhiều. Cùng với trình độ dân trí của quốc gia được nâng cao, trình độ của sé dong sinh viên, đặc biệt trình độ ngoại ngữ va tin học ngay từ khi nhập hoc cũng cao hon trước. Về điều kiện vật chất, cả số lượng và giá trị tài sản của trường (sách, tài liệu tham khảo, máy móc, phương tiện kỹ thuật.phục vụ cho các hoạt động giảng dạy, học tập, quản lý của nhà trường) lớn nhiều lần và hiện đai hơn so với trước.
Tóm lại, đối tượng quan lý (con người và tai sản), môi trường hoạt động. của Trường đại học Luật Hà Nội những năm gần đây đã khác xa so với trước đây. Xét về nhiệm vu chủ yêu của trường, những năm gần đây yêu cầu về nhiệm vụ đào tạo- giáo dục của trường cũng có khác trước. Cu thé là: -Quy mô đào tạo tăng lên, các loại hình dao tạo được bé sung cùng với yêu câu ngày cảng cao về chất lượng dao tạo.
Số lượng đào tạo tăng do SỐ lượng sinh viên đại học chính quy tăng. Các loại hình đào tạo chính quy bang 1, bang 1; vừa học vừa làm bằng 1, bằng 2 cùng thực hiện với các trình độ đào tạo: cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ và SỐ lượng, quốc tịch sinh viên nước ngoài đến học tại trường cũng tăng lên. -Chương trình, nội dung, phương pháp dao tạo có sự thay đổi.