Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực lao động và tạo động lực lao động cho người lao động Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác tạo động lực lao động cho nghiên cứu viên tại Viện Dầu khí Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực lao động cho nghiên cứu viên tại Viện Dầu khí Việt Nam 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và vai trò của tạo động lực 1. Một số khái niệm cơ bản Động lực lao động: Thực tế có rất nhiều quan niệm cũng như là định nghĩa khác nhau về động lực lao động. Theo Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân.
Kreiter (1995) thì cho rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. Còn Higgins (1994) lại đưa ra khái niệm động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Theo giáo trình Quản trị nhân lực thì “ Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” [5, tr. Hay theo giáo trình Hành vi tổ chức “ Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [1, tr.
Theo quan điểm của tác giả: Động lực là sự khao khát và tự nguyện bên trong mỗi cá nhân để tăng cường nỗ lực bản thân nhằm đạt được các mục tiêu cá nhân cũng như là mục tiêu của tổ chức. Những khái niệm ở trên tuy có khác nhau nhưng đều thể hiện bản chất của động lực lao động gồm những điểm sau: Động lực lao động luôn gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trường làm việc cụ thể, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào. Như vậy phải hiểu rõ về công việc và môi trường làm việc thì nhà quản lý mới có thể đưa ra các biện pháp tạo động lực cho người lao động. 8 Các nhà quản lý cần phải có nghệ thuật để để tạo ra động lực lao động cho người lao động, làm cho họ tăng cường tính tự giác, tự nguyện trong công việc nhằm thu được kết quả tốt nhất khi thực hiện công việc vì động lực lao động luôn mang tính tự nguyện.
Nếu người lao động bị ép buộc hoặc làm việc một cách bị động chắc chắn kết quả công việc sẽ kém và chất lượng công việc sẽ không cao. Động lực không phải là đặc tính cá nhân. Con người khi sinh ra không ai có sẵn tính cách này, nó không phải cái cố hữu mà thường xuyên thay đổi. Tùy từng giai đoạn mà mỗi người có thể có động lực lao động rất cao hoặc động lực chưa chắc tồn tại.
Động lực lao động sẽ dẫn đến tăng năng suất cá nhân và sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn trong điều kiện các nhân tố khác không đổi. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc chứ không phải nhân tố tất yếu dẫn tới tăng năng suất lao động cá nhân và hiệu quả công việc vì điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như trình độ, tay nghề, phương tiện lao động… Trên thực tế người lao động không có động lực lao động họ vẫn có thể hoàn thành công việc vì họ có trình độ, tay nghề và nghĩa vụ phải làm nên vẫn hoàn thành công việc của mình nhưng kết quả công việc không phản ánh hết năng lực của họ và những người này có xu hướng ra khỏi tổ chức. Tạo động lực lao động: “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [1, tr. Tạo động lực lao động là tất cả những hoạt động mà doanh nghiệp, tổ chức có thể thực hiện được đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc, tinh thần, thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động.
Mục đích của tạo động lực là làm tăng năng suất, chất lượng công việc và mang lại hạnh phúc cho người lao động. Đối với tổ chức, mục tiêu sử dụng lao động là hiệu quả, năng suất và sự lâu dài. Do vậy các tổ chức luôn đưa ra các biện pháp nhằm động viên khuyến khích 9 người lao động để họ nỗ lực mang hết khả năng của mình ra làm việc và giữ họ gắn bó lâu dài với tổ chức. Đối với người lao động, quá trình lao động ở tổ chức luôn có hướng bị nhàm chán, bị tác động bởi các yếu tố trong quan hệ lao động và quan hệ xã hội.
Do vậy tinh thần thái độ và tính tích cực của họ có xu hướng giảm sút và tất yếu họ sẽ tìm lối thoát là đi khỏi tổ chức. Để tác động làm cho người lao động luôn hăng hái, tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao thì các tổ chức phải sử dụng đúng đắn các biện pháp kích thích động lực lao động. Thật vậy, khi người lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng, tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công việc bởi kết quả thực hiện công việc của người lao động phụ thuộc vào động lực của bản thân họ, vào khả năng của người lao động và môi trường làm việc, phương tiện làm việc, điều kiện làm việc… Trong thực tế, khi người lao động không có động lực họ vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ nhưng nhà quản lý không chỉ muốn người lao động chỉ hoàn thành nhiệm vụ mà họ muốn hơn nữa là người lao động còn phải hoàn thành nhiệm vụ một cách vượt mức, một cách xuất sắc vì vậy mà các biện pháp tạo động lực sẽ giúp nhà quản lý thực hiện được mục đích đó. Vai trò của tạo động lực lao động Thứ nhất, động lực lao động là một nhân tố để phát huy tiềm năng của người lao động.
Như chúng ta đã biết tiềm năng của người lao động là vô cùng lớn nếu như không muốn nói là vô hạn. Nhưng tiềm năng này không được các nhà quản lý khai thác và đánh thức thì nó vẫn chỉ là tiềm năng tiềm ẩn vì thế nếu các nhà quản lý biết cách làm trỗi dậy những tiềm năng này thì đó chính là tài sản, nguồn lực vô cùng quý giá của tổ chức, doanh nghiệp. Thứ hai, động lực lao động giúp cải thiện tinh thần và thái độ làm việc của người lao động. Khi người lao động có động lực làm việc họ sẽ cống hiến hết mình, làm việc hăng say, coi công việc của tổ chức là công việc của mình.
Với tinh thần làm việc như vậy thì mọi khó khăn đều có thể vượt qua và mọi nhiệm vụ đều có thể 10 hoàn thành và như vậy mục tiêu cá nhân cũng như là mục tiêu của tổ chức đều dễ dàng đạt được. Thứ ba, động lực lao động mang lại những kết quả hợp lý trong lao động. Do có động lực, người lao động làm việc bằng cả nhiệt huyết, tâm tư tình cảm của mình nên những vấn đề bất hợp lý trong lao động được loại bỏ. Từ đó mang lại cho tổ chức nhiều lợi ích lớn lao như: - Loại bỏ được sức ỳ trong lao động: Tính thụ động của người lao động sẽ dần mất đi mà thay vào đó là tính chủ động, năng động sáng tạo, hoạt bát.
Họ sẽ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao hơn, với bầu nhiệt huyết lớn hơn, với tình cảm gắn bó hơn. Sẽ không còn tình trạng chán chường, dựa dẫm, ỷ nại vào người khác. - Tạo ra sự đoàn kết, nhất trí và hợp tác trong lao động. Bởi lẽ chính động lực lao động đã thôi thúc họ phải liên kết hợp tác, cùng giúp đỡ nhau, cùng phấn đấu để hoàn thành công việc một cách tốt nhất, cùng đi đến một cái đích chung.
Họ sẽ cùng ngồi trên một chiếc thuyền và cùng nhau đi đến một bến bờ thành tích. - Giảm thiểu được mâu thuẫn, bất bình trong lao động. Trong một tổ chức nếu để vấn đề mâu thuẫn, bất bình trong lao động xảy ra thì đây là vấn đề có thể gây ra những hệ quả khôn lường có tác động tiêu cực đến tổ chức. Tổ chức sẽ không thể đi đến cái đích của mình do tình trạng kém hiệu quả, kém chất lượng trong công việc đem lại.
Không ai có thể làm việc bình trường trong bầu không khí như vậy, chứ nói gì đến việc chủ động trong sáng tạo. Tuy nhiên khi có động lực thì vấn đề này lại thực sự trở nên đơn giản. Người lao động sẽ vui vẻ, yên tâm thích thú trong công việc và môi trường lao động và tình trạng mâu thuẫn, bất bình trong lao động sẽ dần dần mất đi. - Tăng cường ý thức kỷ luật, tinh thần tự giác trong lao động.
Người lao động sẽ tự ý thức được vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong tổ chức. Qua đó giảm thiểu được những chi phí, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Như vậy đã giúp tổ chức giảm đi rất nhiều gánh nặng, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay. Một số học thuyết về tạo động lực lao động Có nhiều học thuyết về động lực trong lao động cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tạo động lực.
Tuy nhiên, tất cả các học thuyết đều có một kết luận chung là: việc tăng cường động lực đối với người lao động sẽ dẫn đến nâng cao thành tích lao động và các thắng lợi lớn hơn của tổ chức. Dưới đây là một số học thuyết cơ bản về tạo động lực. Học thuyết về thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow Tháp nhu cầu Maslow là một trong những khái niệm rất nổi tiếng do nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra, giúp giải thích về các mức độ trong nhu cầu của con người. Ông cho rằng: con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn và ông chia hệ thống nhu cầu đó thành 5 nhóm nhu cầu cơ bản khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu theo bậc thấp đến nhu cầu bậc cao như sau: Các nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản và thiết yếu nhất của con người để tồn tại.
Đó là nhu cầu về ăn, mặc, ở, thở, đi lại và các điều kiện cơ sở vật chất cơ bản nhất để làm việc.