Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trình bày một cách tổng quan ý tưởng, nội dung của bài nghiên cứu. Từ đó thấy được vấn đề chính cần thảo luận. Chương 2: Tổng quan các bài nghiên cứu trước đây.
Tổng hợp những điểm nổi bật từ những bài nghiên cứu của các tác giả từ nhiều nước trên thế giới bàn về cùng chủ đề. Từ đó thấy được những khác biệt và hướng phát triển của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp xây dựng mô hình hồi quy ước lượng và các kiểm định.
Chương 4: Kết quả mô hình thực nghiệm ở Việt Nam. Chương 5: Đưa ra kết luận đồng thời nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. hái quát chung về tiền mặt 2.
Khái niệm Các nhà kinh tế định nghĩa tiền là bất cứ phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán cho việc mua bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ hoặc thanh toán nợ nần. Trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, tiền mặt được hiểu bao gồm tiền tồn quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng. Tiền mặt là một thành phần quan trọng trong tài sản lưu động. Tiền mặt = Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu + Nợ ngắn hạn - Tài sản lưu động khác ngoài tiền mặt - Tài sản cố định 2.
Chi phí của việc nắm giữ tiền mặt - Chi phí nắm giữ: do tỷ lệ sinh lời trực tiếp trên tiền mặt bằng không cộng với ảnh hưởng của lạm phát. - Chi phí cơ hội: chính là khoản lợi nhuận có thể có được nếu đem tiền mặt đi đầu tư. Chi phí cơ hội có thể được tính bằng khoản lợi tức thông qua lãi suất của chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao. Động cơ nắm giữ tiền mặt 2.
Động cơ giao dịch Các mô hình cổ điển về tài chính (Baumol (1952), Miller và Orr (1966)) chỉ ra các nhu cầu tối ưu cho tiền mặt khi một công ty phải gánh chịu chi phí giao dịch liên quan đến chuyển đổi một tài sản tài chính không bằng tiền thành tiền mặt và sử dụng tiền mặt để thanh toán. Có mối liên hệ qui mô công ty với động cơ giao dịch, các công ty lớn nắm giữ ít tiền mặt hơn. Động cơ phòng ngừa Động cơ phòng ngừa khẳng định rằng các công ty giữ tiền mặt để đối phó tốt hơn với các cú sốc bất lợi, tránh tình trạng thiếu tiền mặt trong tương lai cho việc đầu tư, bởi vì tăng tài trợ bên ngoài là tốn kém hơn sử dụng nguồn vốn nội bộ được tạo ra trong sự hiện diện của thông tin bất đối xứng (Opler và các cộng sự (1999)). Động cơ thuế Foley, Hartzell, Titman, and Twite (2007) nhận ra các công ty ở Mỹ gánh chịu những hậu quả từ thuế liên quan đến chuyển dòng tiền từ nước ngoài về nước sẽ nắm giữ tiền mặt nhiều hơn.
Điều này đặc biệt đúng đối với các chi nhánh mà có thể hậu quả của thuế chuyển tiền về nước là cao nhất. Do đó, các công ty đa quốc gia có nhiều khả năng tích lũy tiền mặt cao hơn. Động cơ đại diện Như lập luận của Jensen (1986), các nhà quản lý cố thủ sẽ giữ tiền mặt hơn thay vì tăng tiền chi trả cổ tức cho các cổ đông khi công ty đã có ít cơ hội đầu tư. Những việc nắm giữ tiền mặt theo ý cá nhân này thường được đánh giá là nắm giữ tiền mặt quá mức có nguồn gốc từ mô hình kiểm soát động cơ giao dịch và động cơ nắm giữ tiền mặt của công ty.
Dittmar và Mahrt-Smith (2007) và Harford, Mansi, và Maxwell (2008) cung cấp bằng chứng cho thấy các nhà quản lý cố thủ có nhiều khả năng sẽ xây dựng tiền mặt dư thừa, nhưng chi tiêu tiền mặt dư thừa một cách nhanh chóng. Sự luân chuyển của tiền mặt trong quá trình sản xuất kinh doanh Hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp được bắt đầu bằng tiền mặt. Từ đó, tiền mặt được chuyển đổi thành những loại tài sản khác nhau, tạo ra đòn bẩy hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh với các khoản đi vay và cuối cùng là biến nó trở lại thành tiền mặt nhưng với số lượng lớn hơn ban đầu. Sự luân chuyển của tiền mặt có thể được phân tích thành các chu kỳ, có mối liên hệ chặt chẽ.
Kỳ luân chuyển tiền mặt, nằm trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, là khoảng thời gian tính từ lúc doanh nghiệp thực sự trả tiền cho nhà cung cấp đến khi thực sự thu hồi tiền của khách hàng. Ở đây, ta thấy có sự chênh lệch, một kẽ hở giữa dòng thu tiền mặt và dòng chi tiền mặt. Chính kẽ hở này là nguyên nhân có thể khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và phá sản. Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng, tất cả các hoạt động này đều có sự tham gia của tiền mặt.
Việc quản lý tiền mặt còn bao gồm quản lý những dòng thu, chi tiền mặt rất phức tạp trong doanh nghiệp.1 : Dòng tiền và chu kỳ kinh doanh ngắn hạn của một công ty sản xuất tiêu biểu Mua hàng hóa Bán sản phẩm Thời gian Thời gian tồn kho khoản phải thu Thời gian Thời gian Kỳ luân chuyển khoản phải trả tiền mặt 2. Sự khác nhau giữa lợi nhuận và dòng tiền mặt Để phân biệt giữa lợi nhuận và dòng tiền mặt, ta so sánh hai chỉ tiêu là lợi nhuận ròng và ngân lưu ròng: Lợi nhuận ròng = Doanh thu – Chi phí Ngân lưu ròng = Dòng thu tiền – Dòng chi tiền Như vậy, ngân lưu ròng dương hay âm không có nghĩa là lãi hay lỗ, ngược lại lãi hay lỗ thì không đồng nghĩa là có tiền mặt hay không. Về cơ bản, sự khác nhau này là kết quả của bốn kiểu giao dịch sau đây: - Giao dịch làm tăng lợi nhuận nhưng chưa làm tăng lượng tiền mặt ngay. - Giao dịch làm giảm lợi nhuận nhưng chưa làm giảm lượng tiền mặt ngay.
- Giao dịch làm tăng lượng tiền mặt nhưng chưa tác động đến lợi nhuận ngay. - Giao dịch làm giảm lượng tiền mặt mà chưa tác động đến lợi nhuận ngay. Tín dụng thương mại và nắm giữ tiền mặt 2. Tín dụng thương mại Lợi thế của việc sử dụng tín dụng thương mại là bên mua không cần phải trả tiền cho hàng hóa khi giao hàng và có thể tận hưởng một khoảng thời gian trì hoãn ngắn trước khi đến hạn thanh toán.
Bên bán hàng cung cấp tín dụng cho bên mua, bên mua phải trả tiền mặt cho bên bán trong thời gian cấp tín dụng. Như vậy, tín dụng 7 thương mại có thể được coi như một công cụ tài chính ngắn hạn. Khoản phải trả vượt mức có thể tạo ra chi phí khi thiếu hụt tiền. Trong trường hợp này nảy sinh chi phí cơ hội, một công ty có thể nhận một lượng tiền chiết khấu nếu họ thanh toán vào ngay lúc nhận hàng thay vì thanh toán hóa đơn vào ngày cuối cùng của kì hạn cấp tín dụng.
Nếu một công ty trì hoãn thanh toán quá thời hạn cấp tín dụng do thiếu tiền mặt, họ sẽ phải chịu một trong những chi phí của việc thanh toán quá hạn tín dụng cho phép, bao gồm phí phạt thanh toán chậm hoặc lãi phạt, sự suy giảm xếp hạng tín dụng, và chi phí cơ hội của việc bỏ qua tiền chiết khấu, nếu có. Do đó, từ quan điểm của động cơ phòng ngừa, các công ty có sử dụng tín dụng thương mại phải nắm giữ thêm một lượng tiền mặt nhất định để đáp ứng nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận cấp tín dụng nhằm được hưởng một khoản chiết khấu và tránh bị phạt trả chậm. Khi một nhà cung cấp cung cấp tín dụng thương mại, họ sẽ không nhận được tiền mặt tại thời điểm cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho bên mua. Thay vào đó, do tiền mặt trở thành một khoản phải thu hoặc ghi nhận phải thu trên bảng cân đối.
Tuy nhiên, các nhà cung cấp hy vọng sẽ thu tiền mặt từ các khoản phải thu tại một số điểm trong tương lai, hoặc có thể cầm cố chúng (sử dụng chúng như tài sản thế chấp cho các khoản tài trợ từ ngân hàng). Các khoản phải thu do đó có thể được coi là một khoản thay thế tiền mặt. Điều này có nghĩa rằng các khoản phải thu tín dụng làm giảm lượng tiền mặt nắm giữ của công ty. Tác động của tín dụng thương mại lên nắm giữ tiền mặt – tác động ngược chiều Các công ty thường cấp và nhận tín dụng thương mại cùng một lúc.
Khoản phải thu có thể được coi như một khoản thay thế tiền mặt, chúng có thể được sử dụng để trang trải các khoản phải trả. Điều này có nghĩa rằng các công ty có thể giữ ít tiền mặt dùng để thanh toán các nghĩa vụ tài chính của họ khi họ có các khoản phải thu trên bảng cân đối. Tuy nhiên, vấn đề là 1 đồng khoản phải thu không đảm bảo cho việc thanh toán toàn bộ 1 đồng khoản phải trả. Không có sự chắc chắn về thời gian thu hồi nợ, và các công ty không phải lúc nào cũng thành công trong việc thu hồi tất cả các khoản phải thu đầy đủ.
Trong thương mại, gần như chắc chắn sẽ xuất hiện một số 8 khoản phải thu mà có thể mất tới vài tháng, vài năm để thu hồi toàn bộ số nợ, hoặc sẽ không bao giờ thu hồi được toàn bộ. Do đó, các khoản phải thu bị chiết khấu (giảm giá) khi thay thế tiền mặt, và không phải là khoản thay thế hoàn hảo cho tiềặn mt. Tiền mặt cung cấp thanh khoản vô điều kiện cho các công ty, trong khi các khoản phải thu ít thanh khoản hơn và chịu rủi ro tín dụng. Các công ty phải chịu nhiều chi phí liên quan đến chậm thanh toán.
Một số công ty thích thanh toán sớm hơn để được hưởng một khoản chiết khấu. Để đảm bảo hoạt động của mình, các công ty thường giữ một lượng tiền mặt cần thiết để trang trải các khoản phải trả của họ. Nếu một công ty sử dụng các khoản phải thu thay vì tiền mặt để trả các khoản phải trả, chủ nợ sẽ yêu cầu các khoản phải thu với mệnh giá lớn hơn số tiền còn nợ. Như vậy, từ quan điểm nắm giữ tiền mặt, các khoản phải trả và phải thu có tác động nghịch chiều nhau đến nắm giữ tiền mặt, trong đó 1 đồng các khoản phải thu không đủ thanh toán hoàn toàn 1 đồng các khoản phải trả.
Trong công trình nghiên cứu đã tham khảo của nhóm tác giả Wenfeng Wu, Oliver M.