Chương 1: Giới thiệu. Chương này tác giả đưa ra các nội dung giới thiệu về đề tài nghiên cứu, đặt ra các mục tiêu cụ thể cũng như câu hỏi nghiên cứu. Ngoài 6 ra, trong chương này còn sơ lược về phương pháp nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Trong chương này tác giả trình bày về các cơ sở lý thuyết được dẫn chứng và lược khảo kết quả của các nghiên cứu trước đây về chủ đề tương tự. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Tác giả tập trung trình bày về mô hình kinh tế lượng, các phương pháp ước lượng được thực hiện và nguồn thu thập dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận về kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày về các kết quả hồi quy, giải thích về sự tương quan và chiều hướng tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Quản trị rủi ro tín dụng trong NHTM.
Quản lý rủi ro trong ngân hàng về cơ bản là tạo ra một hệ thống có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của thị trường bằng các biện pháp giúp tối ưu hóa hoạt động tài chính, để tăng khả năng sinh lời và lợi nhuận của ngân hàng. Khi rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng không được kiểm soát có thể gây ra khủng hoảng ngân hàng, ngoại hối và thanh khoản ở cấp độ vi mô, cũng như khủng hoảng tài chính có thể ảnh hưởng đến toàn thế giới ở cấp độ vĩ mô. Quản trị rủi ro tín dụng là một khái niệm được đề cập trong nhiều nghiên cứu về quản trị ngân hàng thương mại. Ủy ban giám sát ngân hàng Basel định nghĩa quản trị rủi ro tín dụng là việc thực hiện các biện pháp để tối đa hóa tỷ suất sinh lời điều chỉnh theo rủi ro tín dụng bằng cách duy trì số dư tín dụng trong phạm vi các tham số cho phép.
P (2002) thì quản trị rủi ro tín dụng được hiểu là việc các nhà quản trị sử dụng các nghiệp vụ của ngân hàng để hạn chế khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện của mình theo cam kết. Dựa vào các khái niệm trên có thể hiểu quản trị rủi ro tín dụng là tất cả các hoạt động của ngân hàng nhằm kiểm soát chúng ở mức độ cho phép và hạn chế thiệt hại xảy ra khi khách hàng không trả được nợ theo thảo thuận. Khái niệm về nợ xấu. Nợ xấu (Non-performing Loans - NPL) là một trong các chỉ tiêu dùng để đo lường rủi ro tín dụng của các ngân hàng, đây là những khoản vay mà các tổ chức tài chính coi là có nguy cơ mất tiền do các người vay không trả được nợ.
Nợ xấu có thể phát sinh từ các yếu tố bên trong và bên ngoài. Yếu tố bên trong là những yếu tố phụ thuộc vào hoạt động quản lý của ngân hàng và khách hàng, cụ thể như hoạt động cho khách hàng vay vốn, khả năng cạnh tranh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng hay khả năng phân tích tín dụng của ngân hàng, 8 các quy trình quản lý rủi ro tín dụng. Mặt khác, các yếu tố bên ngoài là những yếu tố rủi ro mà sự xuất hiện của chúng nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng hoặc khách hàng. Điển hình như những thay đổi về chính sách, sự phát triển công nghệ hoặc những cú sốc kinh tế vĩ mô là những ví dụ về các yếu tố ngoại sinh.
Nợ xấu được chia thành ba loại: nợ dưới chuẩn chuẩn, nghi ngờ và xấu. Nợ xấu ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng ngân hàng đạt được các mục tiêu của mình (Duffie và Singleton, 2012). Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có các quy định về nợ xấu tại điều 3 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Cụ thể hơn, tại điều 10 và 11 của Thông tư này quy định các khoản cho vay được coi là nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi từ 90 ngày trở lên.
Theo ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), nợ xấu trong các NHTM bao gồm nợ không thể thu hồi được, là những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ; những khoản nợ mà khách hàng chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. Hay nợ có thể thu nhưng không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc có tài sản thế chấp nhưng không đủ để trả nợ. Tại cuộc họp của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) lần thứ 18 vào năm 2005 cho rằng nợ xấu bao gồm: Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tính thanh toán lãi và/hoặc tính gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ. Theo IMF, về cơ bản nợ xấu được định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i): quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii:) khả năng trả nợ bị nghi ngờ.
Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng. Một ý kiến khác của Rottke và Gentgen (2008) cho rằng các khoản vay có rủi ro cần được phân loại theo 2 nhóm, bao gồm: các khoản vay không trả được nợ hơn 9 90 ngày; và nhóm còn lại là các khoản vay có giá trị thấp. Bexley và Nenninger (2012) cũng đồng tình với với Rottke và Gentgen (2008) khi kết luận rằng những khoản vay trễ hạn 90 ngày trở lên theo tiền gốc và/hoặc lãi suất đáo hạn và được xem là nợ xấu trong danh mục của ngân hàng, ngoài ra, Zorana Agic và Zoran Jeremic, 2018 cũng ủng hộ các quan điểm trên. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh (2017) thì phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng.
Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng khi áp dụng thực tế lại gặp nhiều khó khăn. Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đề cập đến các khoản nợ bị giảm giá trị, theo IAS 39 (đoạn 58 - 70) cho rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp vào danh mục khoản vay bị giảm giá trị và khuyến khích áp dụng ở một số nước phát triển vào năm 2005. Nếu nợ bị giảm giá trị thì sẽ ghi giảm giá trị tài sản vì những tổn thất do nợ xấu gây ra. Tuy nhiên, IAS 39 cũng đề cập đến khả năng trả nợ của các khoản vay không kể thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn.
Bên cạnh đó, nhóm chuyên gia tư vấn của Liên Hiệp Quốc (AEG), cho rằng: “Nợ xấu được xác định là nợ quá hạn trên 90 ngày và nghi ngờ khả năng trả nợ”. Vì vậy, nợ xấu được định nghĩa là khoản vay quá hạn thanh toán gốc và/hoặc lãi trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa được trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập vào gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được trả nợ đầy đủ (Nguyễn Thị Hồng Vinh, 2017). Phân loại nợ xấu: Phân loại nợ là quá trình ngân hàng theo dõi các khoản cho vay của mình một cách thường xuyên để đưa chúng vào các nhóm khác nhau dựa trên khả năng trả nợ và thời hạn của khoản cho vay đó. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp cho ngân hàng có thể kiểm soát tốt chất lượng tín dụng.
Phân loại nợ xấu được chia thành hai loại với nội dung như sau: 10 2. Theo thời gian nợ quá hạn và khả năng thu hồi nợ. Các quốc gia có có các tổ chức tài chính kinh tế khác nhau đều có cách phân loại nợ khác nhau. Tuy nhiên, việc phân loại nợ xấu trong hoạt động tín dụng thường được thực hiện dựa trên đánh giá về thời gian quá hạn và khả năng thu hồi khoản tín dụng đã được cấp.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam định nghĩa nợ xấu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn), trong đó: - Nhóm 3: thời gian quá hạn từ 91 - 180 ngày; nợ gia hạn lần đầu; nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. - Nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 - 360 ngày; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra đã quá hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được”. - Nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ đựoc cơ cấu lại lần thứ hai; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được NHNN công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nhà nước bị phong tỏa vốn và tài sản. Theo nguyên tắc hạch toán kế toán: Theo nguyên tắc hạch toán kế toán thì nợ xấu được phân chia thành 2 loại là (i) nợ xấu nội bảng và (i) nợ xấu ngoại bảng: - Nợ xấu nội bảng: là những khoản nợ xấu vẫn đang được theo dõi trong nội bảng cân đối kế toán của tổ chức tín dụng.