CHƯƠNG 1 Tại chương này đã khái quát được vấn đề mà tác giả quan tâm và tính cấp thiết của nó để tác giả quyết định chọn làm vấn đề để nghiên cứu. Đồng thời tại chương này cũng đã xác định được các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng quát và ý nghĩa của đề tài này với thực tiễn. Trong chương này đã xác định những vấn đề cụ thể cần được giải quyết và định hướng cho các chương sau. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
TỔNG QUAN VỀ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Theo Phan Thị Thu Hà (2013) tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Người gửi tiền có thể là cá nhân người Việt Nam hoặc người nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có nhu cầu gửi tiền ở ngân hàng vì mục đích tiết kiệm, sinh lời, an toàn… Thẻ tiết kiệm là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng sở hữu tiền gửi tiết kiệm về khoản tiền đã gửi tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự , 2013).
Phân loại tiền gửi tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Thu Hà (2013) và Nguyễn Văn Tiến (2015) thì tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM Việt Nam được phân loại theo kỳ hạn gửi tiền thì đó là tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn: Loại hình này còn được gọi là tiền gửi thanh toán. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là sản phẩm tiền gửi tiết kiệm được ngân hàng thiết kế dành cho những khách hàng có tiền nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng vì mục tiêu an toàn, sinh lợi nhưng chưa có kế hoạch sử dụng cụ thể trong tương lai. Đối với khách hàng khi lựa chọn hình thức tiết kiệm này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn mục tiêu sinh lợi. Khi gửi tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng sẽ được ngân hàng cấp sổ tiết kiệm không kỳ hạn.
Sổ này sẽ phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, số tiền lãi được hưởng và số dư. Với sổ tiết kiệm không kỳ hạn, người gửi tiền có thể gửi hay rút tiền mà không cần báo trước vào 9 bất cứ ngày làm việc nào của NHTM. Do phải dự trữ một số tiền đảm bảo để có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu nên ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này cho kinh doanh vì thế ngân hàng chỉ phải trả một mức lãi suất thấp đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Khác với hình thức tiền gửi thanh toán, mỗi lần giao dịch khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm và chỉ có thể thực hiện các giao dịch ngân quỹ chứ không thực hiện được các giao dịch thanh toán (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự, 2013).
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là sản phẩm tiền gửi tiết kiệm được thiết kế dành cho khách hàng có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng trong tương lai. Đây là hình thức tiết kiệm phổ biến nhất, quen thuộc nhất ở nước ta. Với loại tiền gửi tiết kiệm này, khách hàng cũng được cấp sổ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với ngân hàng nhận tiền gửi tiết kiệm. Do đó, đây là một nguồn vốn tương đối ổn định và lãi suất của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Trường hợp người gửi tiền rút tiền trước hạn thì tùy theo sự thỏa thuận giữa ngân hàng với người gửi tiền khi gửi mà người gửi sẽ được hưởng lãi theo lãi suất không kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại. Căn cứ vào kỳ hạn có thể chia thành tiền gửi tiết kiệm 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng…, 12 tháng hoặc lâu hơn với nhiều mức lãi suất phụ thuộc vào kỳ hạn gửi, thông thường kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao (Trần Huy Hoàng, 2010). Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác huy động tiền gửi tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại 2.
Các yếu tố vĩ mô Yếu tố khách quan là những yếu tố nằm ngoài ngân hàng, nhưng không có nghĩa là nó không quan trọng. Bất kỳ ngân hàng nào cũng không được xem nhẹ yếu tố này. Đó là: Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu nhập, thanh toán, chi tiêu và nhu cầu vốn và gửi tiền của dân cư. Các yếu tố của môi trường kinh tế như: thu nhập bình quân đầu người; tỷ lệ xuất nhập khẩu; tốc độ tăng 10 trưởng và phát triển kinh tế quốc dân; tỷ lệ lạm phát, sự ổn định về kinh tế; chính sách đầu tư, tiết kiệm của chính phủ… Môi trường kinh tế có tác động rất mạnh mẽ đến nhu cầu và cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của khách hàng.
Do vậy, nó chi phối đến hoạt động của ngân hàng như công tác huy động vốn và khả năng thỏa mãn nhu cầu vốn cùng các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế. Môi trường văn hóa xã hội chi phối hành vi của khách hàng và cả đối thủ cạnh tranh của ngân hàng rất nhiếu. Những hành động trái với truyền thống văn hóa thường khó được chấp nhận. Hành vi tiêu dùng bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa, do đó nó cũng ảnh hưởng tới nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Mặt khác, môi trường văn hóa xã hội được hình thành từ những tổ chức và những nguồn lực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị của xã hội như cách nhận thức, trình độ dân trí, trình độ văn hóa, lối sống, thói quen sử dụng và cất trữ tiền tệ và sự hiểu biết của dân chúng về hoạt động ngân hàng. Môi trường pháp lý là yếu tố thuộc môi trường bên ngoài và có tác động rất lớn đến hoạt động của ngân hàng thương mại, trong đó có hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân. Do ảnh hưởng to lớn của hoạt động tài chính vào nền kinh tế mà mỗi ngân hàng thương mại đều chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật. Luật pháp tạo ra cơ sở pháp lý cho các hoạt động của ngân hàng dưới hình thức các Luật, Bộ Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quy chế… Đó là những quy định bắt buộc các ngân hàng phải tuân theo, đồng thời cũng là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân bị ràng buộc bởi quy chế về tiền gửi tiết kiệm. Môi trường công nghệ thể hiện thông qua những tiến bộ của công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân nói riêng. Các ngân hàng có thể áp dụng những phương tiện, công cụ mới vào hoạt động của mình, từ đó tăng năng suất và hiệu quả lao động, giảm chi phí, đồng thời gia tăng khả năng cạnh tranh trong ngân hàng. Các yếu tố thuộc về ngân hàng Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: Khi triển khai một dịch vụ để cung cấp cho khách hàng, các ngân hàng đều phải xây dựng một kế hoạch kinh doanh, một tầm nhìn.
Đó chính là chiến lược kinh doanh, được xây dựng trên nền tảng khách hàng mục tiêu mà ngân hàng đang hướng tới và các yếu tố môi trường. Do đó, cơ cấu nguồn vốn huy động sẽ thay đổi theo chiến lược kinh doanh từng thời kỳ và gây ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn. Quy mô, uy tín của ngân hàng: Do đặc tính vô hình của dịch vụ ngân hàng, nên trong kinh doanh, ngân hàng phải dựa vào lòng tin. Vì vậy, một trong những hoạt động quan trọng của ngân hàng là phải tạo và củng cố niềm tin đối với khách hàng bằng việc tạo ra uy tín cho ngân hàng.
Thật vậy, uy tín trong hệ thống tài chính là một loại “tài sản vô hình” của ngân hàng đó. Trình độ kỹ thuật – công nghệ của ngân hàng: Công nghệ hiện đại sẽ tạo ra lợi nhuận nâng cao chất lượng hoạt động của ngân hàng, giảm bớt thời gian và chi phí giao dịch, tăng khả năng kiểm soát đối với các dịch vụ ngân hàng, cập nhật, thu thập, xử lý và phân tích thông tin nhanh hơn, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện ích. LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN SỬ DỤNG SẢN PHẨM, DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 2. Lý thuyết hành vi Theo học thuyết tâm lý xã hội của Ajzen và Fishbein (1975 và 1980), thành phần của lý do đi đến quyết định thực hiện một hành động (the theory of reasoned action - TRA) bao gồm: Ý định hành vi (behavioral intention - BI), thái độ của chủ thể đó đối với hành vi (attitude - A) và các tiêu chuẩn chủ quan bên ngoài tác động đến hành vi (subjective norm - SN).
Học thuyết này đề xuất rằng, ý định hành vi của một chủ thể phụ thuộc vào thái độ của người đó về hành vi và các tiêu chuẩn chủ quan bên ngoài tác động theo công thức: Ý định hành vi (BI) = Thái độ đối với hành vi (A) + Các tiêu chuẩn chủ quan (SN) Việc tìm hiểu sự hình thành thái độ của người tiêu dùng là cần thiết, khi áp dụng lý thuyết “thái độ” vào việc nghiên cứu về thương hiệu. Trong lý thuyết về “Ý 12 định hành vi” (Theory of planned behavior - TPB), Ajzen (1991) đề xuất thêm “nhận thức kiểm soát hành vi” để phân tích sự hình thành nên thái độ và hành vi thực hiện một hành động.