Chương 1 đã phan nao giới thiệu khái quát nội dung đề tài với tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng các câu hỏi nghiên cứu và thông qua các phương pháp kỹ thuật định lượng để tìm ra kết quả nghiên cứu. Trong chương 2 đề tài sẽ tiếp tục giới thiệu cơ sở lý thuyết về nắm giữ tiền mặt và các học thuyết liên quan. Nội dung chương sẽ được tách làm hai phần: phần đầu nêu ra cơ sở lý thuyết về quyết định nắm giữ tiền mặt và các học thuyết liên quan; phần thứ hai đề tài trích dẫn một số nghiên cứu thực nghiệm trước để mình chứng cho mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và quyết định nắm giữ tiền mặt, đông thời cũng làm cơ sở để xác định các biến nghiên cứu trong đề tài.1 Cơ sở lý thuyết về nắm giữ tiền mặt và các học thuyết liên quan Tiền mặt là một tài sản có tính thanh khoản cao nhất và là thước đo khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Nắm giữ tiền mặt là một vẫn dé quan trong của bất kỳ doanh nghiệp nào bởi vì nó cung cấp cho doanh nghiệp khả năng thanh khoản. Vì vậy, các doanh nghiệp có thể trả hết những nghĩa vụ nợ của họ đúng hạn thậm chí cả trong những khoảng thời gian khó khăn. Đề gia tăng sản lượng bán hàng và doanh thu, một doanh nghiệp cần xây dựng tiền mặt dự trữ bằng cách đảm bảo rằng thời gian của các dòng tiền có thể tạo nên vị thế tích cực của toàn bộ dòng tiền. Bởi vậy, tiền mặt là một nhân tố cần thiết cho phép doanh nghiệp tồn tại và thịnh vượng.
Trong các nghiên cứu tài chính, tiền mặt thường được định nghĩa là các khoản tiền mặt và các loại chứng khoán đầu tư ngắn hạn hoặc các khoản tương đương tiền. Các khoản tương đương tiền có đặc điểm là chúng có thể chuyên thành tiền mặt trong khoảng thời gian rất ngắn, bao gồm các loại chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu kho bạc, hợp đồng mua lại và các quỹ thị trường tiền tệ. Chính vì vậy, nắm giữ tiền mặt có thê xác định từ quan điểm tài chính nắm giữ tiền mặt và các khoản tương đương tiền bởi doanh nghiệp (Pascal, 2005). Theo John Maynard Keynes, trong tác phâm kinh điển “Lý thuyết chung về nhân công, lợi ích và tiển ”, đã định nghĩa ba động cơ cho tính thanh khoản: động cơ đầu cơ, 8 động cơ dự phòng và động cơ giao dịch.
Theo đó, động cơ đầu cơ là nhu cầu nắm giữ tiền nhằm tận dụng được, ví dụ, mua bán mặc cả có thê tăng lên, lãi suất hấp dẫn, và (trong trường hợp của các công ty đa quốc gia) những biến động tỷ giá có lợi. Đối với hầu hết các công ty, khả năng vay dự trữ và các chứng khoán đầu tư ngắn hạn có thể được sử dụng để thỏa mãn động cơ này. Theo đó, có thê có động cơ đầu cơ đề duy trì thanh khoản, nhưng thực chất không nhất thiết nắm giữ tiền mặt. Hãy nghĩ theo cách này: nếu bạn có một thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng rất lớn, thì có lẽ bạn có thê tận dụng bắt kỳ món hời bắt thường nào diễn ra mà không cần mang theo tiền mặt.
Điều này cũng đúng cho phạm vi nhỏ hơn là động cơ dự phòng. Động cơ dự phòng là nhu cầu một nguồn cung cấp an toàn để hoạt động như là một dự trữ tài chính. Một lần nữa, có thể là động cơ dự phòng để duy trì thanh khoản. Tuy nhiên, do giá trị của các công cụ thị trường tiền tệ tương đối ôn định và những công cụ như tín phiếu kho bạc có tính lỏng cao, nên không có nhu cầu thực sự để nắm giữ một lượng tiền đáng kể nhằm mục đích dự phòng.
Động cơ giao dịch là nhu cầu có tiền mặt trong tay đề chỉ trả hóa đơn. Các nhu cầu liên quan đến giao dịch xuất phát từ hoạt động chỉ tiêu và thu nợ thông thường của công ty. Chỉ tiêu tiền mặt bao gồm thanh toán tiền lương, các món nợ thương mại, thuế và cổ tức. Tiền mặt được thu từ việc bán sản phâm, bán tài sản và huy động vốn mới.
Dòng tiền vào (các khoản thu) và dòng tiền ra (các khoản chi) không hoàn toàn đồng nhất, và một vài mức độ năm giữ tiền mặt là cần thiết để đảm bảo. Khi hoạt động chuyên tiền điện tử và các hoạt động tốc độ cao khác, hay còn gọi là hệ thống thanh toán không giấy tờ tiếp tục phát triển, thì nhu cầu giao dịch tiền mặt vẫn tồn tại mà không bị biến mắt. Tuy nhiên, nếu điều này có diễn ra thì vẫn sẽ có nhu cầu về thanh khoản và nhu cầu đề quản lý nó hiệu qua (Stephen, 2008). Có bốn học thuyết quan trọng giải thích về mức độ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp: 2.1 Học thuyết hoán đổi Theo học thuyết này, các doanh nghiệp chọn mức độ nắm giữ tiền mặt tối ưu bằng cách so sánh giữa chỉ phí và lợi ích nắm giữ tiền mặt.
Giả định rằng nhà quản lý tối da hóa tài sản của cô đông, họ sẽ lập nên cách nắm giữ tiền mặt sao cho lợi ích biên và chỉ 9 phí biên cân bằng với nhau. Theo Keynes (1936) nhận định, lợi ích của việc năm giữ tiền mặt vì động cơ chỉ phí giao dịch và động cơ phòng ngừa. Động cơ đầu tiên liên quan tới vấn đề tiết kiệm chi phí nhằm gia tăng vốn và nhu cầu thanh toán tài sản hiện có để chỉ trả. Động cơ thứ hai cho rằng doanh nghiệp có thể sử dụng khả năng thanh khoản dé huy động vốn cho các hoạt động và việc đầu tư khi các nguồn tài chính khác không có sẵn hoặc tốn kém chỉ phí.
Chi phí của việc nắm giữ tiền mặt chủ yếu là chi phí cơ hội của vốn đầu tư vào tài sản thanh khoản. Điểm quan trọng của học thuyết này là có một mức độ tối ưu về số dư tiền mặt cho các doanh nghiệp, trong đó các nhà quản lý quyết định về vẫn đề nắm giữ tiền mặt dựa trên phân tích giữa chỉ phí và lợi ích. Theo học thuyết này, để tối đa hóa tài sản của các cổ đông, số dư tiền mặt của doanh nghiệp phải được kiểm soát sao cho lợi ích biên gia tăng từ việc nắm giữ tiền mặt sẽ bằng với chỉ phí biên.2 Học thuyết trật tự phân hạng Học thuyết của Myers và Majluf (1984) lại cho rằng không có mức độ nắm giữ tiền mặt tối ưu, và tiền mặt chỉ hoạt động như là một vật đệm giữa lợi nhuận giữ lại và nhu cầu đầu tư. Ngoài ra, học thuyết này còn giả định rằng một hệ thống phân cấp tài chính được tuân theo bởi các công ty nhằm tối thiểu hóa chi phi do các thông tin bất cân xứng.
Ở trường hợp đầu tiên, các công ty thích tài trợ cho các khoản đầu tư của họ bằng nguồn vốn bên trong, sau đó sử dụng nợ và cuối cùng là vốn cỗ phần, bởi vì nợ có chỉ phí thông tin thấp hơn so với huy động vốn bằng cô phần. Kết quả là, xem xét thực tế rằng các nhà quản lý thích huy động vốn bằng nguồn bên trong hơn là nguồn bên ngoài, họ có xu hướng tích lũy tiền mặt để có thể cung cấp cho nhu cầu tài chính trong nội bộ ở giai đoạn đầu và không sử dụng nguồn vốn bên ngoài. Học thuyết về đại diện Học thuyết của Jensen (1986) cho rằng những nhà đầu tư cố hữu của các công ty có cơ hội đầu tư nghèo nàn có xu hướng giữ lại tiền mặt hơn là chỉ tiêu nó. Học thuyết đại diện gồm hai giả thiết khi hướng tới quyết định nắm giữ tiền mặt: giả thiết dòng tiền tự do và giả thiết giảm thiêu rủi ro.
Trong đó, lý thuyết dòng tiền tự do cho rằng nhà quản 10 lý thích nắm giữ tiền mặt hơn là chỉ trả cổ tức cho cô đông bởi vì nó giúp gia tăng mức độ tài sản mà họ kiểm soát và tính linh hoạt để theo đuôi mục tiêu riêng của họ. Giả thiết giảm thiêu rủi ro xem xét việc nắm giữ tiền mặt như là các khoản đầu tư phi rủi ro và chính vì vậy nhà đầu tư ngại rủi ro sẽ gia tăng việc nắm giữ tiền mặt để giảm thiêu ton thất do rủi ro của công ty, do đó, từ bỏ những dự án rủi ro có NPV dương. Học thuyết dòng tiền tự do Theo học thuyết dòng tiền tự do, chính sách chỉ trả cổ tức từ dòng tiền tự do dẫn tới xung đột về lợi ích giữa nhà quản trị và cô đông. Nhà quản trị thay vì dùng dòng tiền tự do dé chi trả cổ tức cho cô đông lại sử dụng khoản tiền này để đầu tư vào những dự án thâu tóm công ty khác, mở rộng công ty, nghiên cứu và phát triển hoặc đa dạng hóa các loại hình kinh doanh của công ty với lời hứa với các cô đông là nhằm mục đích gia tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho công ty.
Tuy nhiên, đây chỉ là các biện pháp tăng quỹ tiền mặt đưới sự kiểm soát của các nhà quản trị, vì điều này cho phép họ tăng sức mạnh của mình và được tự do thực hiện dự án mới mà không cần một sự cho phép của các cô đông. Ủng hộ học thuyết dòng tiền tự do, Harford (1999) chứng tỏ rằng nắm giữ tiền mặt vượt mức dễ dẫn đến việc thâu tóm giảm giá trị. Tuy nhiên, Mikkelson và Partch (2003) lại cho rằng các doanh nghiệp với mức lợi nhuận giữ lại cao không gây nên thành quả hoạt động thấp.2 Các nghiên cứu trước Một số tác giả đã nghiên cứu tác động của nhiều yếu tô khác nhau ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp từ nhiều góc độ và quy mô khác nhau. Sau đây là một số các nghiên cứu trước hữu ích đối với bài nghiên cứu này.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Kim và các cộng sự (1998) Nghiên cứu đầu tiên tác giả muốn đề cập tới là tác phâm “Các yếu tổ quyết định nắm giữ tài sản thanh khoản của doanh nghiệp: Lý thuyết và các bằng chứng” của Kim 11 và các cộng sự (1998).
Tác giả thực hiện nghiên cứu này nhằm cung cấp những lý thuyết cũng như những bằng chứng thực nghiệm về quyết định đầu tư vào những tài sản thanh khoản của công ty. Dữ liệu được sử dụng trong phân tích là dữ liệu dạng bảng của 915 công ty trong lĩnh vực công nghiệp tại Mỹ trong suốt thời gian từ năm 1975 tới năm 1994.