CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do dẫn dắt để hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu. Những nội dung này sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu sắc về các cơ sở lý thuyết liên quan sẽ được trình bày trong chương tiếp theo. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về lợi nhuận của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm lợi nhuận của ngân hàng thương mại Lợi nhuận của NHTM là khoản chênh lệch được xác định thông qua tổng doanh thu trừ đi tất cả các khoản chi phí hoạt động mà NHTM phải trả hợp lý, hợp lệ. Lợi nhuận của NHTM được thực hiện trong năm được xem là kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong đó bao gồm lợi nhuận từ nghiệp vụ và các hoạt động kinh doanh khác (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Trong đó: Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp Rose (2001) cho rằng các NHTM là các đơn vị kinh doanh đặc thù với vai trò là trung gian tài chính, sẽ tìm kiếm lợi nhuận dựa trên việc chênh lệch lãi huy động vốn tiết kiệm phải trả và lãi cho vay thu được, ngoài ra lợi nhuận còn được thu từ các hoạt động đầu tư hay tài chính khác của ngân hàng khi tiến hành đa dạng hóa các nguồn thu.
Do đó, NHTM vẫn theo đuổi mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tuy nhiên với vai trò quan trọng là huyết mạch của nền kinh tế thì mục đích này cần phải cân nhắc với một mức rủi ro cho phép để tránh tình trạng suy giảm cho cả hệ thống. Nhưng lợi nhuận của ngân hàng thường được thể hiện dưới dạng tỷ suất sinh lời khi được đảm bảo an toàn vốn, thị phần tăng trưởng hay sức cạnh tranh tăng lên và có dòng vốn đầu tư. Mặt khác, Trần Huy Hoàng (2011) cũng chỉ ra rằng lợi nhuận của ngân hàng được đánh giá dưới dạng tỷ suất cũng có thể đánh giá được việc ngân hàng sử dụng các nguồn lực của mình (tổng tài sản) hay nguồn vốn từ các chủ sở hữu (VCSH) hiệu quả như thế nào để tạo ra được lợi nhuận ròng cho tổ chức. Đồng với quan điểm này thì Nguyễn Thị Xuân Liễu (2010) cũng xem xét lợi nhuận của các NHTM dưới các tỷ số sinh lời để đánh giá toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh, chủ yếu là xem xét tình hiệu quả thông qua lợi nhuận được thu về các nguồn lực của vốn vay, 10 VCSH hay các nguồn tài trợ khác ngân hàng.
Vì nếu đơn thuần chỉ xét riêng lợi nhuận thì sẽ không phản ánh được tổng quát tương xứng với quy mô hay các nguồn lực, do khi doanh thu trừ đi chi phí kết quả dương là ngân hàng có lợi nhuận thì không phản ánh được hiệu quả hoạt động thật sự. Tóm lại, tại luận văn này thì lợi nhuận của ngân hàng hay lợi nhuận ròng được hiểu là chênh lệch giữa tổng thu nhập và các chi phí hoạt động bao gồm cả thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đánh giá rõ hơn về lợi nhuận ròng được tạo ra từ sự hiệu quả trong hoạt động kinh doanh thì lợi nhuận này sẽ được thể hiện dưới dạng tỷ suất lợi nhuận, hay là tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân hay VCSH bình quân. Nó thể hiện cho việc ngân hàng tận dụng tất cả nguồn lực của mình hay nguồn tài trợ từ các chủ sở hữu để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng một cách tương xứng với quy mô lẫn kì vọng.
Các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng thương mại Với các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất lợi nhuận thì tỷ số như ROA, ROE được sử dụng là phổ biến. Các chỉ số này đo lường dựa trên tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên các nguồn hình thành lợi nhuận như tài sản, vốn chủ sở hữu bình quân,… Các chỉ tiêu này đều được phản ảnh trên các báo cáo tài chính nên rất dễ thu thập tại các thời điểm hay thời kì cụ thể, tùy vào mục đích đánh giá. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân (ROA) ROA là tỷ lệ đại diện cho khả năng sinh lời của NHTM được đo lường thông qua tỷ lệ lợi nhuận sau thuế (EAT) trên tổng tài sản bình quân của ngân hàng (Ongore; 2013; Khrawish, 2011). Tỷ lệ này đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận từ tài sản của ngân hàng, hay nói cách khác chỉ tiêu này thể hiện khả năng quản lý của lãnh đạo ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
Hay nói cách khác, ROA là hiệu quả sử dụng nguồn lực là tài sản của ngân hàng để tạo ra thu nhập. Wen (2010) chỉ ra rằng ROA càng cao thì việc tận dụng tài sản của ngân hàng càng hiệu quả trong việc tạo ra nguồn thu nhập ròng cho tổ chức. ROA được 11 đo lường với công thức sau: ROA = ợ ậ ế ổ à ả ì â 2. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân ROE đại diện cho tỷ số tài chính liên quan đến lợi nhuận của ngân hàng dựa trên tổng số tiền vốn chủ sở hữu hay vốn cổ phần mà các cổ đông đã đầu tư vào ngân hàng, hay nói cách khác tỷ lệ này là những gì các cổ đông xem xét trả cho các nhà đầu tư của họ (Ongore; 2013).
Các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng khi VCSH càng cao thì khả năng tạo tiền từ nội bộ sẽ cao, nếu ROE càng cao có nghĩa là việc huy động vốn chủ sở hữu càng hiệu quả với việc tạo ra nhiều lợi nhuận hơn. Mặt khác, ROE còn được xem là tỷ suất lợi nhuận ròng chia cho tổng số vốn cổ phần hay các quỹ đầu tư vào ngân hàng. Đồng thời, tỷ lệ này phản ánh cho việc ban lãnh đạo của ngân hàng đang quản lý tốt dòng vốn của các chủ sở hữu để tạo ra lợi nhuận hay lợi ích cho các cơ đông. ROE được đo lường với công thức sau: ROE = ợ ậ ế ổ ố ủ ở ữ ì â Tóm lại, trong luận văn này thì tác giả lựa chọn ROA để làm tiêu chí phản ánh cho tỷ suất lợi nhuận của các NHTM Việt Nam, vì chỉ tiêu này cho thấy mức độ sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực hay tổng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận.
Vì vậy, dùng ROA để phản ánh lợi nhuận sẽ có cái nhìn tổng quát hơn về hoạt động của NHTM. Các yếu tố tác động đến lợi nhuận tại các ngân hàng thương mại Nguyễn Văn Tiến (2015) cho rằng hoạt động kinh doanh của NHTM chủ yếu là trung gian tài chính cho các đối tượng trong nền kinh tế, hay đòn bẩy tài chính sau đó thu về lợi nhuận cho mình, do đó HĐKD của các NHTM chịu sự tác động từ các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài và lợi nhuận cũng như vậy. Hay nói cách khác, lợi nhuận của ngân hàng sẽ chịu tác động bởi các yếu tố bên trong được xem là đặc thù 12 cho năng lực quản lý, chiến lược kinh doanh hay khẩu vị rủi ro của ngân hàng. Các yếu tố bên ngoài thì chủ yếu liên quan đến vĩ mô nền kinh tế hay các chính sách của quốc gia.
Nhóm yếu tố thuộc nội tại ngân hàng thương mại 2. Quy mô ngân hàng Nguyễn Đăng Dờn (2010) cho rằng quy mô ngân hàng được thể hiện thông qua giá trị tổng tài sản gồm hai loại sinh lời và không sinh lời, tuy nhiên để duy trì tính hoạt động ổn định thì các NHTM ưu tiên gia tăng các tài sản sinh lời. Mặt khác, quy mô ngân hàng thể hiện năng lực tài chính, sự giàu mạnh, bộ mặt trong hệ thống, ngoài ra quy mô ngân hàng càng lớn thì đại diện cho khả năng tiếp cận các đối tượng khách hàng cũng như các dự án đầu tư càng dễ dàng hơn. Djalilov và cộng sự (2016) đã chỉ ra rằng các ngân hàng có quy mô càng lớn thì tiềm lực tài chính, khẩu vị cũng như sức chịu đựng rủi ro cũng cao hơn các đơn vị có quy mô nhỏ hơn, do đó hoạt động cấp tín dụng hay đầu tư và các hoạt động mở rộng kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận cũng được thực hiện nhiều hơn.
Nhưng với một khía cạnh khác thì Adelopo và cộng sự (2018); Batten và Võ Xuân Vinh (2019) cũng lập luận rằng khi các NHTM có tham vọng mở rộng quy mô nhiều thì việc đầu tư sẽ lớn hơn, các chi phí hoạt động hay tiếp cận khách hàng hoặc tái đầu tư vào những dự án có mức độ rủi ro cao để nâng cao sự cạnh tranh hay thị phần sẽ làm gia tăng chi phí lẫn những rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng. Nếu vị đầu tư lớn nhưng hoạt động không hiệu quả hay không có sự cải thiện năng suất thì lợi nhuận có khả năng suy giảm và kéo theo tỷ suất lợi nhuận cũng có thể giảm theo. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu Nguyễn Văn Tiến (2015) đã chỉ ra để HĐKD hiệu quả thì nguồn tài trợ chủ yếu của NHTM đến từ hai nguồn là tiền gửi tiết kiệm từ các khách hàng có nguồn tiền nhàn rổi, thứ hai là từ các chủ sở hữu hay cổ đông thông qua hình thức góp vốn trực tiếp hoặc cổ phần ngân hàng. Đối với tiền gửi thì các NHTM phải chấp nhận chi trả lãi 13 vô điều kiện với khách hàng.
Nhưng đối với VCSH thì đây được xem là nguồn vốn dài hạn và NHTM chỉ trả cổ tức cho cổ đông khi ngân hàng làm ăn có lãi trừ các cổ đông ưu đãi. Do đó, khi nguồn vốn từ chủ sở hữu được huy động ngày càng nhiều thì các NHTM cũng sẽ giảm được các áp lực thanh toán lẫn nguy cơ phá sản. Mặt khác, tỷ lệ VCSH đo lường mức độ chịu đựng của ngân hàng và sự phục hội của ngân hàng khi các rủi ro liên quan đến thị trường xuất hiện (Nguyễn Khắc Minh, 2014). Đồng thời, khi có được nguồn VCSH dài hạn dồi dào thì NHTM dễ dàng và thận trọng hơn trong các khoản cấp tín dụng, tập trung cho các hạng mục đầu tư dài hạn khác thuận lợi hơn và sinh ra lợi nhuận hơn và sinh ra lợi nhuận nhiều hơn.