đặt vấn đề nghiên cứu; tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu bao gồm: phạm vi về lĩnh vực nghiên cứu, phạm vi không gian, phạm vi thời gian, đối tượng khảo sát; ý nghĩa khoa học và kết cấu của đề tài. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan đến đề tài. Bao gồm các khái niệm: chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng và các khái niệm có liên quan, mối quan hệ giữa các khái niệm. Đồng thời, chương 2 cũng đề xuất mô hình nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết.1 Khái niệm và đặc điểm chất lượng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm 2.1 Khái niệm dịch vụ Ngày nay, vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng được nhận thức rõ hơn.
Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng. Tuy nhiên, để có thể nêu ra một khái niệm chuẩn về dịch vụ vẫn còn là vấn đề đang được tranh luận. Thực tế cho tới nay vẫn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ Các nhà nghiên cứu marketing hiện đại Kotler và Armstrong (1999) định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là bất kỳ hành động hay lợi ích nào một bên có thể cung cấp cho bên khác mà về cơ bản là vô hình và không tồn tại sự sở hữu nào cả” Hình 2.1: Mô hình sản xuất cung cấp dịch vụ Nguồn: Marketing dịch vụ - Lưu Văn Nghiêm (2008) 11 Theo Lưu Văn Nghiêm (2008), dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hóa hiện hữu không có. Do đó, để có thể hiểu rõ hơn quan niệm về chất lượng của dịch vụ, cần nhận thức được những đặc tính riêng có của dịch vụ.
Theo Quinn và ctg (1987) cho rằng: Hầu hết các nghiên cứu đều xem lĩnh vực dịch vụ bao gồm tất cả những hoạt động kinh tế tạo ra sản phẩm không mang tính vật chất, được sản xuất và tiêu thụ đồng thời và mang lại những giá trị gia tăng dưới các hình thức (như sự tiện lợi, sự thích thú, sự kịp thời, sự tiện nghi và sự lành mạnh) mà các lợi ích vô hình này về bản chất dành cho khách hàng đầu tiên Dịch vụ có 4 đặc điểm nổi bật như sau: Không hiện hữu (Intangibility): một dịch vụ thuần túy không thể được đánh giá bằng cách sử dụng bất kỳ giác quan cơ thể nào trước khi nó được mua. Vì vậy, để giảm sự không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các bằng chứng của chất lượng dịch vụ từ những đối tượng họ tiếp xúc, trang thiết bị… mà họ thấy được.2: Đặc điểm của dịch vụ Nguồn: Marketing dịnh vụ - Lưu Văn Nghiêm, 2008 12 Không đồng nhất (Heterogeneity): ở đây muốn nói đến sự không giống nhau của các mức độ thực hiện dịch vụ. Điều này có nghĩa dịch vụ có thể được xếp hạng từ rất kém cho đến rất hoàn hảo. Những vấn đề thiết yếu và chất lượng của một dịch vụ có thể thay đổi tuỳ theo người phục vụ, khách hàng cảm nhận và thời gian phục vụ.
Về căn bản, tính biến thiên trong dịch vụ dễ xảy ra và xảy ra thường xuyên là do dịch vụ có mức độ tương tác con người rất cao. Chính điều này làm cho việc chuẩn hoá dịch vụ trở nên khó thực hiện hơn. Không tách rời (Inseparability): dịch vụ là hoạt động mà quá trình cung ứng và tiêu dùng diễn ra cùng lúc. Một dịch vụ không thể tách thành hai giai đoạn: giai đoạn tạo thành và giai đoạn sử dụng nó.
Không tồn trữ: dịch vụ khác với các hàng hóa thông thường ở chỗ nó không thể được cất giữ, không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng. Nói cách khác, dịch vụ nhạy cảm hơn các hàng hóa thông thường trước những thay đổi và sự đa dạng của nhu cầu.2 Tiền gửi tiết kiệm Có nhiều khái niệm về tiền gửi tiết kiệm, tuy nhiên theo quyết định số 14/VBHN-NHNN về việc ban hành quy chế tiền gửi tiết kiệm ban hành ngày 21 tháng 05 năm 2014, tiền gửi tiết kiệm chính là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Theo Luật Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 có đề cập đến các ngân hàng thương mại có quyền cung cấp dịch vụ về tiền gửi như sau: 1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiển gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; 2.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền 13 gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm. Có thể nói, sản phẩm tiền gửi tiết kiệm là sản phẩm phi vật chất của ngân hàng, là một loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng.
Dịch vụ tiền gửi đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế, cụ thể: Đối với khách hàng: o Cung cấp cho khách hàng kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi. o Cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất giữ và tích lũy nguồn tiền nhàn rôi. Đối với nền kinh tế: o Kênh chu chuyển nguồn vốn. o Cung cấp hàng hóa cho thị trường tài chính.
Đối với ngân hàng thương mại: o Tạo nguồn vốn chủ lực cho hoạt động kinh doanh: Không có nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng thương mại sẽ không đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình. o Thông qua nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại có thể đo lường được uy tính cũng như sự tính nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Từ đó ngân hàng thương mại có biện pháp không ngừng hoàn thiện để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Các loại thủ tục tiền gửi tiết kiệm Theo điều 9 của quyết định số 14/VBHN-NHNN về việc ban hành quy chế tiền gửi tiết kiệm ban hành ngày 21 tháng 05 năm 2014, thủ tục tiền gửi tiết kiệm gồm có hai loại: tiền gửi tiết kiệm lần đầu và tiền gửi tiết kiệm lần tiếp theo.
Thủ tục tiền gửi gửi tiết kiệm lần đầu: 14 Người gửi tiền phải trực tiếp thực hiện giao dịch tiền gửi tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và xuất trình các giấy tờ sau: Đối với người gửi tiền là cá nhân Việt Nam phải xuất trình chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực. Đối với người gửi tiền là cá nhân nước ngoài, phải xuất trình hộ chiếu được cấp thị thực còn thời hạn hiệu lực; nếu người gửi tiền đó nhập cảnh được miễn thị thực theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, thì xuất trình hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực; Đối với người gửi tiền là người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật, ngoài việc xuất trình chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực, phải xuất trình các giấy tờ chứng minh tư cách của người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự; Đối với cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi nhưng có tài sản riêng, ngoài việc xuất trình chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực phải xuất trình giấy tờ để chứng minh số tiền gửi ngân hàng là tài sản riêng của mình như giấy tờ về thừa kế, cho, tặng, hoặc các giấy tờ khác chứng minh số tiền gửi vào ngân hàng là tài sản của mình. Người gửi tiền đăng ký chữ ký mẫu lưu tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Trường hợp người gửi tiền không thể viết được dưới bất kỳ hình thức nào thì tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm hướng dẫn cho người gửi tiền đăng ký mã số hoặc ký hiệu đặc biệt thay cho chữ ký mẫu.
Người gửi tiền thực hiện các thủ tục khác do tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy định. Tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm thực hiện các thủ tục nhận tiền gửi tiết kiệm, mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm và cấp thẻ tiết kiệm cho người gửi tiền lần đầu sau khi người gửi tiền đã thực hiện các thủ tục. Thủ tục các lần tiền gửi tiết kiệm tiếp theo: Thủ tục nhận tiền gửi tiết kiệm do tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy định phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh doanh, mô hình quản lý của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm, đảm bảo việc nhận tiền gửi tiện lợi, chính xác và an toàn tài sản. 15 Đối với giao dịch tiền gửi vào thẻ tiết kiệm đã cấp, người gửi tiền có thể thực hiện trực tiếp hoặc gửi thông qua người khác theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.3 Các sản phẩm dịch vụ tiền gửi tiết kiệm Theo thông tư số 04/2011/TT-NHNN ngày 10 tháng 03 năm 2011, tiền gửi bao gồm các hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác của tổ chức (trừ tổ chức tín dụng).
Phân theo thời hạn tiền gửi, hình thức tiền gửi tiết kiệm bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, với kỳ hạn tiền gửi do ngân hàng nhận tiền gửi tiết kiệm quy định. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Là tiền gửi tiết kiệm, trong đó người gửi tiền thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm về kỳ hạn gửi nhất định. Tùy theo chiến lược hoạt động của các NHTM mà có các dịch vụ tiền gửi tiết kiệm kèm theo.4 Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là vấn đề mà các nhà quản lý quan tâm nhiều trong giai đoạn kinh doanh hiện nay.