Chương 1 đã trình bày khái quát những vấn đề của bài nghiên cứu và đưu ra những vấn đề cơ bản về lý do chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam”, những mục tiêu cụ thể từ mục tiêu tổng quát, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu gồm cả định lượng và định tính. Phần cuối của chương là tổng quát bộ cục của bài nghiên cứu gồm 5 chương và nêu sơ lược về nội dung chính của từng chương. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái quát về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm rủi ro rín dụng của ngân hàng thương mại Hiện nay, khái niệm RRTD được hiểu theo nhiều cách giải thích khác nhau: Theo Ngô Hướng và ctg (2014), “RRTD khi người vay lỗi hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn, lãi, hoặc vốn và lãi. Sự lỗi hẹn có thể là trễ hạn (delayed payment) về thời gian đã thỏa thuận hoặc không thanh toán được (nonpayment) theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của ốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản”.
Theo MacDonald và Koch (2006), RRTD là “sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Theo hiệp ước Basel II, RRTD được định nghĩa là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” (NHNN, 2016). Theo nhiều định nghĩa phong phú cho RRTD như trên, ta có thể được hiểu RRTD là loại rủi ro xuất hiện khi ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay, thường được thể hiện qua tình trạng khách hàng không thanh toán đúng thời hạn, trả nợ nhưng không đủ hoặc thậm chí là không thể thanh toán được khoản nợ và điều này gây ra nhiều thiệt hại về mặt tài chính và gây trở ngại cho những hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.
Phân loại rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Phân loại căn cứ theo nguyên nhân phát sinh RR: Theo Ngô Hướng và ctg (2004), RRTD được chia thành hai loại dựa vào nguyên nhân phát sinh RR là RR danh mục và RR giao dịch: 9 • RR danh mục: là RRTD có nguyên phát sinh từ những hạn chế trong việc quản lý danh mục đầu tư cho vay của ngân hàng, được chia thành hai loại là RR nội tại xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn như thế nào của khách hàng, ngược lại là RR tập trung có nguyên nhân từ việc ngân hàng chỉ tập trung cho vay ở một số khách hàng cụ thể nào đó, một ngành kinh tế và việc này gây nên RR cao. • RR giao dịch: là RRTD có nguyên nhân phát sinh từ những hạn chế xuất hiện trong quá trình thực hiện giao dịch, xét duyệt cho vay cho đến đánh giá khách hàng có đủ tiêu chuẩn hay không. Loại RR này bao gồm RR lựa chọn (liên quan đến quá trình đánh giá, phân tích tín dụng, phương án vay như thế nào để ngân hàng quyết định tài trợ cho vay); RR bảo đảm (có nguyên nhân từ những tiêu chuẩn đảm bảo như loại tài sản đảm bảo, mức cho vay, chủ thể đảm bảo, …); RR nghiệp vụ (liên quan đến quản lý những khoản vay và quá trình cho vay gồm việc sủ dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý khi xảy ra những khoản vay có vấn đề Phân loại căn cứ theo suy biến rủi ro: • RR khách quan: là loại RR có nguyên nhân từ yếu tố khách quan có thể là thiên tai, dịch bệnh, mất tích người vay chết, …làm cho ngân hàng không thu hồi được khoản vay dù khách hàng hay ngân hàng đều đã thực hiện đúng như trong hợp đồng. • RR chủ quan: là loại RR xuất phát từ người vay hoặc người cho vay đã cố tình hay vô tình làm cho vốn vay bị thất thoát.
Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Có nhiều chỉ tiêu đo lường RRTD tại NHTM và chúng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phản ánh mức độ RRTD mà ngân hàng phải đối mặt (Phạm Thái Hà, 2017). Những chỉ tiêu có thể đánh giá trực tiếp mức RRTD tại các NHTM gồm: • Tỷ lệ Nợ quá hạn 10 Theo Phạm Thái Hà (2017) cho rằng nợ quá hạn được xem là một tiêu chí cơ bản để đánh giá mức độ RRTD. Sự xuất hiện của nợ quá hạn xảy ra khi thời hạn trả nợ đã được thỏa thuận trước đó không được tuân thủ, với việc bên đi vay không thể hoàn trả toàn bộ hoặc một phần nợ đúng hạn. Dựa trên thời gian nợ quá hạn, những khoản nợ được phân thành 5 nhóm: Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý), Nợ nhóm 3 (Nợ dưới chuẩn), Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và Nợ nhóm 5 (Nợ có nguy cơ mất vốn).
Trong quá trình hướng tới mục tiêu tăng trưởng, các ngân hàng không thể hoàn toàn tránh khỏi sự xuất hiện của nợ quá hạn. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ nợ quá hạn vượt quá mức cho phép, điều này có thể làm giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng, điều này phản ánh sự kém hiệu quả trong quản lý tín dụng cũng như trong việc thu hồi nợ của ngân hàng. 𝑆ố 𝑑ư 𝑛ợ 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 Tỷ lệ nợ quá hạn = × 100% (2.1) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ • Tỷ lệ Nợ xấu Theo NHNN (2021), nợ được phân loại theo từng nhóm như sau: ✓ Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn ✓ Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý ✓ Nợ nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn ✓ Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ ✓ Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn Nợ xấu được quy định thuộc các nhóm 3, 4, 5. Theo Phan Thị Thu Hà (2013), TLNX thường được xem là chỉ tiêu nhằm đánh giá chất lượng danh mục cho vay của ngân hàng như thế nào.
Tỷ lệ này có thể đánh giá được phần trăm của nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, nếu tỷ lệ cao cho thấy hiệu quả quản lý tín dụng của ngân hàng thấp và dẫn đến chất lượng danh mục cho vay không đảm bảo. Khi TLNX tăng, nó không chỉ làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản mà còn dẫn đến khả năng mất vốn, tác động tiêu cực đến uy tín của ngân hàng so với những ngân 11 hàng khác và ngược lại nếu tỷ lệ này được ngân hàng kiểm soát tốt sẽ cho thấy chất lượng danh mục cho vay đang được kiểm soát tích cực. 𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 Tỷ lệ nợ xấu = × 100% (2.2) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ • Dự phòng rủi ro tín dụng Theo Ashour (2011), dự phòng RRTD là khoản chi phí được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng nhằm dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với những khoản nợ không thu hồi được. Tỷ lệ dự phòng được tính dựa trên tổng dư nợ gốc của khách hàng gồm dự phòng chung và dự phòng cụ thể.
Tỷ lệ này cho thấy sự chuẩn bị của ngân hàng đối với những tổn thấy có thể xảy ra, nếu tỷ lệ càng cao cho thấy ngân hàng đang có danh mục cho vay không an toàn, khả năng thu hồi nợ thấp và làm cho RRTD tăng. 𝑀ứ𝑐 𝑑ự 𝑝ℎò𝑛𝑔 𝑅𝑅𝑇𝐷 Tỷ lệ dự phòng RRTD = × 100% (2. Tác động của rủi ro tín dụng • Đối với ngân hàng ✓ Làm giảm uy tín của ngân hàng: Theo nghiên cứu của Zribi và Boujelbène (2011), khi hoạt động cho vay của ngân hàng gặp rủi ro dẫn đến HĐKD của ngân hàng bị ảnh hưởng tiêu cực sẽ khiến cho uy tín của ngân hàng giảm sút trên thị trường. Đây có thể được xem là sự tổn thất vô hình đối với ngân hàng và làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng gặp nhiều khó khăn ✓ Làm giảm khả năng thanh toán: Hoạt động huy động vốn và cho vay có mối liên kết với nhau và đóng vai trò quan trọng trong NHTM, vì thế khi RRTD xảy ra, trong khi không thu hồi được các khoản nợ gốc và lãi thì khách hàng gửi tiền lại rút ồ ạt khiến cho NHTM không cân bằng được thu và chi dẫn đến tình trạng khó khăn ở khâu thanh toán (Phan Thị Linh, 2023) ✓ Làm giảm lợi nhuận: Theo Kutum (2017) cho rằng RRTD có thể làm tăng chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý, …khiến cho kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng giảm mạnh và kéo theo lợi nhuận cũng giảm theo.
12 ✓ Dẫn đến phá sản: Khi RRTD xảy ra sẽ dẫn đến nhiều tổn thất cho NHTM về tài chính, hệ số an toàn vốn thấp và hạn chế khả năng chi trả, nếu tình trạng này kéo dài có thể khiến cho ngân hàng tuyên bố phá sản (Kharabsheh 2019) • Đối với nền kinh tế ✓ Tác động tiêu cực đến cả hệ thống tài chính của một quốc gia: Theo Phan Thị Linh (2023), có một mối liên kết chặt chẽ của hệ thống NHTM vì những nghiệp vụ của ngân hàng thường có mối liên quan với nhau. Do đó, rủi ro của các hoạt động ngân hàng thường mang tính chất dây chuyền, nếu một ngân hàng nào đó gặp khó khăn hay thậm chí là phá sản thì những ngân hàng khác trong hệ thống sẽ bị kéo theo và gặp tình trạng tương tự. Chính vì thế hoạt động kinh doanh gặp khó khăn hay phá sản của một hoặc nhiều ngân hàng vì RRTD tăng cao sẽ là một mối đe dọa lớn đối với cả một hệ thống ngân hàng tại một quốc gia. ✓ Làm hoạt động của nền kinh tế bị đình trệ: Ngân hàng có sự ảnh hưởng lớn đến chính sách tiền tệ và đến công cụ điều tiết vĩ mô, vì thế khi ngân hàng không thể thu hồi lại nguồn vốn đã cho vay khi RRTD xuất hiện, điều này sẽ dẫn đến khả năng ngân hàng không thể cân đối thu chi, không còn khả năng thanh toán, và khiến cho rủi ro thanh khoản tăng cao.
Quá trình này là nguyên nhân cốt lõi khiến cho ngân hàng không thể hoạt động và phá sản.