chương 1 cũng trình bày về ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và bố cục của nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Cơ sở lý thuyết về ngân hàng thương mại 2. Khái niệm ngân hàng thương mại NHTM là khái niệm được trình bày trong nhiều nghiên cứu khác nhau.
Mặc dù vậy, chưa có định nghĩa thống nhất về NHTM. Một số định nghĩa phổ biến về NHTM như sau: Theo Rose & Hudgins (2008), ngân hàng có thể được định nghĩa là “loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), NHTM là loại hình thực hiện đa dạng các hoạt động ngân hàng như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo Lê Thị Tuyết Hoa (2017), NHTM là tổ chức trung gian tài chính thực hiện hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán qua tài khoản và cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ lĩnh vực tài chính tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận.
Như vậy, NHTM trong đề tài có thể hiểu là một loại hình trung gian tài chính, được phép thực hiện đa dạng các hoạt động như huy động vốn, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. Dựa vào một số khái niệm nêu trên, ta có thể thấy ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận với những đặc trưng sau: - Đối tượng kinh doanh của ngân hàng thương mại là tiền và các sản phẩm tài chính. - Hoạt động thường xuyên của ngân hàng thương mại là nhận tiền gửi của khách hàng và sử dụng để cấp tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế thông qua cho vay, chiết khấu… , cũng như cung cấp đa dạng các dịch vụ khác như dịch vụ thanh toán, dịch vụ thu hộ. - Do hàng hóa kinh doanh là tiền tệ và các sản phẩm tài chính – mang tính nhạy 8 cảm với các biến động kinh tế, có sự ảnh hưởng lớn đến toàn bộ các ngành nghề cũng như tâm lý của người dân nên ngân hàng thương mại phải chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định do Ngân hàng Trung ương đặt ra.
Tóm lại, sự phát triển rộng lớn về số lượng, mạng lưới hoạt động cùng với việc “thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” đã làm cho ngân hàng thương mại trở thành trung gian tài chính quan trọng bậc nhất của nền kinh tế 2. Hoạt động của ngân hàng thương mại 2. Hoạt động huy động vốn Theo Rose & Hudgin (2008), Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), một trong những hoạt động quan trọng giúp cho NH thực hiện được vai trò trung gian tài chính là hoạt động huy động vốn. Các NHTM huy động vốn thông qua hai hình thức chính là nhận tiền gửi các loại và phát hành giấy tờ có giá.
Ngoài ra, để đảm bao nguồn vốn cho quá trình hoạt động, NHTM có thể vay vốn từ các NHTM khác, NHNN hoặc các tổ chức tài chính trong và ngoài nước theo quy định. Thông qua hoạt động huy động vốn, các NHTM tập trung được nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế vừa tạo điều kiện phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, vừa là cơ sở vốn đầu vào để cung cấp tín dụng cho các chủ thể thiếu trong nền kinh tế. Do vậy, hoạt động huy động vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM. Khi nguồn vốn huy động càng cao với chi phí huy động hợp lý, NHTM càng có điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động cấp tín dụng và hoạt động thanh toán, tạo điều kiện gia tăng lợi nhuận.
Hoạt động tín dụng Tín dụng ngân hàng là hoạt động quan trọng của nền kinh tế (Lê Thị Tuyết Hoa, 2017). Tín dụng NH là giao dịch trong đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng sử dụng khoản tiền trong khoảng thời gian nhất định, với nguyên tắc hoàn trả gốc vào lãi. Thông qua hoạt động tín dụng, NH cung cấp kịp thời vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế có vốn để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu mua sắm, sản xuất kinh doanh. Ngân hàng khi cấp tín dụng sẽ nhận được thu nhập từ lãi.
Đây là nguồn thu nhập chủ yếu của các NHTM. 9 Mặc dù vậy, hoạt động tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao. Rủi ro này đến từ việc người vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đã cam kết trong hợp đồng, gọi là rủi ro tín dụng. Các khoản nợ chậm trả, hoặc không trả được là biểu hiện của rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu nhưng các NHTM phải kiểm soát trong mức độ rủi ro cho phép. Nếu rủi ro tín dụng càng cao, các NHTM phải gia tăng trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng cũng như ảnh hưởng đến khả năng thu gốc và lãi. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập, chi phí và lợi nhuận của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh phi tín dụng NHTM là trung gian tài chính cung cấp đa dạng bậc nhất các sản phẩm dịch vụ tài chính phi tín dụng khác.
Một số các hoạt động kinh doanh phi tín dụng, theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), có thể kể đến gồm: - Hoạt động kinh doanh ngoại hối: các NHTM thực hiện mua bán các loại ngoại tệ trên thị trường nhằm đảm bảo cân đối cung cầu ngoại tệ, tăng thu nhập cho NH thông qua kinh doanh chênh lệch tỷ giá và mua bán ngoại tệ. - Hoạt động thanh toán: NHTM cung cấp đa dạng các phương tiện thanh toán qua tài khoản như séc, thẻ, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi để thỏa mãn nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt của người dân. Bên cạnh đó, NH cũng triển khai các hoạt động thanh toán quốc tế, góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển. - Hoạt động thanh toán và dịch vụ khác: bảo quản hiện vật quý và giấy tờ có giá, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, đầu tư chứng khoán, môi giới… đó là những nghiệp vụ khác mà NHTM có thể cung cấp nhằm làm đa dạng hóa danh mục sản phẩm, dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trên thị trường.
Các dịch vụ này mang lại nguồn thu nhập phi lãi cho NH. Đây được xem như là nguồn thu nhập có vai trò ngày càng quan trọng, giúp các NH đa dạng nguồn thu, giảm sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng nhiều rủi ro. Chức năng của ngân hàng thương mại Theo Lê Thị Tuyết Hoa (2017), Rose và Hudgins (2008), NHTM thông qua các hoạt động của mình, có các chức năng trên thị trường như sau: Thứ nhất, chức năng trung gian tài chính. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế là huy động vốn từ chủ thể thừa để cấp vốn cho các chủ thể thiếu.
Bên cạnh đó, NHTM 10 còn đóng vai trò là cánh tay nối dài của NHNN trong việc thực hiện điều hành chính sách tiền tệ. Thứ hai, chức năng thủ quỹ. NHTM thông qua hoạt động nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, tập trung được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế. NHTM khi nhận tiền gửi sẽ có nghĩa vụ nắm giữ tiền và thực hiện các mệnh lệnh của chủ tài khoản tiền gửi.
Nhờ vào chức năng thủ quỹ mà NHTM có cơ sở để thực hiện chức năng thanh toán và tín dụng. Thứ ba, chức năng tín dụng. Thông qua cấp tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, NH thực hiện chức năng tín dụng - cung cấp vốn cho các chủ thể thiếu sử dụng trong khoảng thời gian nhất định, áp dụng quy tắc hoàn trả gốc và lãi. Nhờ có chức năng này, vốn được cấp cho các cá nhân, tổ chức nhằm thỏa mãn chi tiêu, mua sắm, sản xuất kinh doanh.
Từ đó, các NHTM có đóng góp không nhỏ cho thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn, góp phần phát triển kinh tế. Thứ tư, chức năng thanh toán. Đối với loại tiền gửi thanh toán, các NHTM cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản nhằm giúp các chủ thể trong nền kinh tế thanh toán nhanh chóng, an toàn, tiện lợi. Bản thân NH cũng tập trung được nguồn vốn giá rẻ trong nền kinh tế cũng như gia tăng thu nhập từ dịch vụ thanh toán.
Thứ năm, chức năng tạo tiền. NHTM thông qua cấp tín dụng bằng chuyển khoản đã tạo ra được tiền bút tệ trong hệ thống NH tham gia vào lưu thông. Điều này giúp NHNN có thể can thiệp vào khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM nhằm điều hành chính sách kinh tế. Với các chức năng trên, NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế, góp phần đáng kể trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh - xã hội.
Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Hiệu quả hoạt động của ngân hàng là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhưng chưa có định nghĩa thống nhất. Hiệu quả hoạt động là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với đối thủ cạnh tranh. Theo Ngân hàng trung ương Châu Âu ECB (2010) cho rằng hiệu quả hoạt động của NH là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững.
Theo Đặng Thị Minh Nguyệt 11 và cộng sự (2021), hiệu quả hoạt động của NHTM gắn liền với khả năng sinh lời của NHTM. Nguyễn Văn Chiến, Phạm Thị Minh Thùy (2021), hiệu quả hoạt động của NHTM gắn liền với các hoạt động của ngân hàng, nhằm tạo ra lợi nhuận. Như vậy, theo nhiều nghiên cứu trước, hiệu quả hoạt động của NHTM có thể hiểu là khả năng tạo ra lợi nhuận thông qua các hoạt động của ngân hàng như huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác. Nói cách khác, khả năng sinh lời chính là một thước đo hiệu quả của doanh nghiệp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.