PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng chủ yếu của các NHTMCP Việt Nam, tạo nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng và đóng vai trò trọng yếu trong sự phát triển của nền kinh tế. Do đó, mục tiêu tăng trƣởng tín dụng nhƣng vẫn đảm bảo rủi ro đƣợc kiểm soát tốt là một trong những ƣu tiên hàng đầu của Nhà nƣớc và toàn thể ngành Ngân hàng, nhằm góp phần phát triển nền kinh tế. Rủi ro lớn nhất mà các ngân hàng luôn phải đối mặt khi đặt mục tiêu về tăng trƣởng tín dụng là rủi ro tín dụng (RRTD).
RRTD không chỉ gây ra tổn thất về tài chính, giảm giá trị thị trƣờng của vốn ngân hàng, mà trong trƣờng hợp nghiêm trọng hơn có thể làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí phá sản. Phòng ngừa hạn chế RRTD là vấn đề khó khăn, phức tạp, thƣờng khó kiểm soát, dẫn đến thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng. Các nghiên cứu Luận văn thạc sĩ KT cho thấy, có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng. Nó bao gồm cả các nguyên nhân từ bản thân các ngân hàng, và tình trạng chung của toàn ngành Các NHTMCP Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm với các cơn bão nợ xấu với tỷ lệ nợ xấu hai con số, đặc biệt trong giai đoạn 1999-2000 (13%) và 2011-2012 (18%) (NHNN, 2017).
Thực tế hiện nay, nợ xấu ở Việt Nam đang đƣợc kiểm soát khá tốt, luôn dƣới 3% tổng dƣ nợ. Thống kê đƣợc công bố công khai trên các báo cáo tài chính của các NHTMCPCP tại Việt Nam cho thấy, giai đoạn 2012- 2018, tỷ nợ xấu trung bình của các ngân hàng là 2. Riêng năm 2016, tỷ lệ nợ xấu hầu hết đều tăng vọt, trung bình 3,3%. Tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng giảm xuống mức tƣơng đối thấp là 2,1% vào 2018, so với 2,4% năm 2017, do các ngân hàng đẩy mạnh xử lý nợ xấu thông qua thu hồi nợ và bán tài sản thế chấp qua áp dụng Nghị quyết 42.
Tuy nhiên, trƣớc mục tiêu tăng trƣởng tín dụng và ảnh hƣởng từ các yếu tố khác nhau, đặc biệt là các yếu tố vĩ mô và yếu tố nội tại, các NHTMCP luôn thƣờng trực nguy cơ rủi ro tín dụng (RRTD) tăng cao, dẫn tới hậu quả là các ngân hàng có vốn mà không dám cho vay, còn nền kinh tế thì vẫn tiếp tục khát vốn. Một khoản nợ xấu khổng lồ không thể đƣa vào lƣu thông, bị chôn ở các 2 tài sản đảm bảo sẽ gây lãng phí lớn cho xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn nhƣ hiện nay. Thực tế này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu về các yếu tố tác động đến RRTD của các NHTMCP Việt Nam, nhất là khi tài sản đảm bảo tiền vay hầu hết là bất động sản. RRTD trong hoạt động ngân hàng là không thể tránh khỏi nhƣng có thể ngăn ngừa và kiểm soát.
Kiểm soát rủi ro tốt là một kênh gián tiếp làm ra lợi nhuận cho ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng tốt là lợi thế cạnh tranh và là công cụ tạo ra giá trị, góp phần thúc đẩy các chiến lƣợc kinh doanh hiệu quả hơn. Để đạt đƣợc mục tiêu hạn chế RRTD tại NHTMCP VN, cần thiết phải nhận dạng và phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng, để làm sáng tỏ bức tranh RRTD của các NHTMCP tại VN, từ đó có những khuyến nghị hiệu quả. Do đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn là “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam” 2.
Mục đích nghiên cứu - Hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn cơ sở lý thuyết về RRTD và các yếu Luận văn tố ảnh hƣởng đến RRTD của NHTMCP thạc sĩ KT - Xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến RRTD của các NHTMCP tại VN bằng phƣơng pháp định lƣợng - Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cho các NHTMCP và kiến nghị với Cơ quan nhà nƣớc nhằm tăng cƣờng hiệu quả hoạt động quản trị RRTD tại các NHTMCP tại VN 3. Phạm vi và dữ liệu nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu là 35 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2012-2018. - Dữ liệu phân tích có tổng cộng 217 quan sát, đƣợc lấy từ các báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán tại thời điểm cuối năm của 35 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2012-2018. Các biến độc lập về yếu tố bên ngoài ngân hàng là các số liệu liên quan đến yếu tố kinh tế vĩ mô đƣợc thu thập từ website của Tổng cục thống kê và các nguồn tham khảo khác.
Phƣơng pháp nghiên cứu 3 Đề tài sử dụng phƣơng pháp ƣớc lƣợng hồi quy với dữ liệu bảng, kết hợp với phƣơng pháp định tính, để phân tích các yếu tố bên trong cũng nhƣ các yếu tố bên ngoài ảnh hƣởng đến RRTD tại các NHTMCP Việt Nam. Chi tiết về phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc trình bày ở CHƢƠNG III: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU. Kết cấu đề tài nghiên cứu Luận văn đƣợc thực hiện bao gồm 76 trang. Ngoài phần tóm tắt, danh mục tài liệu tham khảo và 20 trang phụ lục, kết cấu luận văn gồm 5 chƣơng: CHƢƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG III: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG V: KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ Luận văn thạc sĩ KT 4 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, có nhiều giả thuyết cũng nhƣ các nghiên cứu thực nghiệm đề cập đến các yếu tố tác động đến RRTD của NHTMCP.
Những nghiên cứu này thƣờng xoay quanh 3 nhóm chủ đề chính. - Các nghiên cứu về quản trị RRTD - Các nghiên cứu định lƣợng về các yếu tố ảnh hƣởng đến RRTD. - Các nghiên cứu về mô hình, phƣơng pháp đo lƣờng RRTD 1. Các nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng Các nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng thƣờng sử dụng phƣơng pháp định tính, giới hạn trong phạm vi một chi nhánh, hoặc ngân hàng cụ thể, hoặc đối với một nhóm đối tƣợng khách hàng.
Trong nghiên cứu của Ping Han (2015) về những vấn đề của RRTD tại các Luận văn thạc sĩ KT NHTMCP Trung Quốc, tác giả đã đánh giá thực trạng thiếu hiệu quả trong quản trị RRTD tại những NHTMCP ở Trung Quốc, từ đó kiến nghị một số giải pháp quản trị RRTD tại các NHTMCP Trung Quốc để đối phó với tình hình mới. Ở Trung Quốc, RRTD là rủi ro tài chính quan trọng nhất mà các NHTMCP Trung Quốc gặp phải. Do có nền kinh tế kế hoạch diễn ra trong khoảng thời gian dài, nên các ngân hàng còn thiếu ý thức về rủi ro tín dụng, bỏ qua việc quản trị RRTD trong một thời gian rất dài. Hiện nay, các NHTMCP Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc đánh giá tín dụng của khách hàng.
Tuy nhiên, công tác đo lƣờng và quản lý còn lạc hậu khi chỉ giới hạn ở các phƣơng pháp định tính truyền thống, chƣa xây dựng đƣợc hệ thống quản lý rủi ro toàn diện. Ngoài ra, ở Trung Quốc, cơ sở dữ liệu xếp hạng tín dụng doanh nghiệp và thông tin thay đổi chƣa đƣợc thiết lập. Việc thiếu dữ liệu xếp hạng tín dụng và thay đổi càng làm tăng độ khó cho việc đo lƣờng rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, RRTD của các NHTMCP ở Trung Quốc cũng chịu ảnh hƣởng của sự can thiệp của chính phủ trong 1 số lĩnh vực, đặc biệt là những khoản vay xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng của chính phủ.
5 Đỗ Đoan Trang (2019) đã phân tích những RRTD tại các NHTMCP Việt Nam , từ đó đƣa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng. Theo tác giả, quản trị RRTD vẫn là vấn đề cần đặc biệt chú trọng của các NHTMCP Việt Nam, khi mà hệ thống ngân hàng vẫn đang gánh số nợ xấu cao so với chuẩn quốc tế… Một số hạn chế trong quản trị RRTD ngân hàng hiện nay bao gồm: (i) Ngân hàng mở rộng tín dụng quá mức, đồng nghĩa là lựa chọn khách hàng kém kỹ càng hơn, khả năng giám sát việc sử dụng khoản vay yếu; (ii) Cán bộ nhân viên không tuân thủ theo quy trình tín dụng, ngân hàng cũng thiếu sự giám sát chặt chẽ; (iii) Một số doanh nghiệp đứng ra bảo lãnh hoặc uỷ quyền cho các chi nhánh trực thuộc thực hiện vay vốn của NHTMCP để tránh sự kiểm tra, giám sát của ngân hàng cho vay. Khi đơn vị vay vốn mất khả năng thanh toán, bên bảo lãnh và uỷ quyền không chịu thực hiện việc trả nợ thay. Nguyễn Thị Gấm (2018) khi nghiên cứu về thực trạng RRTD đối với đối tƣợng là khách hàng doanh nghiệp tại các NHTMCP Việt Nam, “đã rút ra đƣợc Luận văn thạc sĩ KT những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến nợ xấu, nợ quá hạn ở đối tƣợng khách hàng này gia tăng.
Nhóm nguyên nhân khách quan bao gồm: suy thoái kinh tế toàn cầu, chính sách cắt giảm chi tiêu công của Chính phủ, “bong bóng” tài sản thế chấp, tình trạng chạy đua lãi suất nóng sốt giữa các ngân hàng. Nhóm nguyên nhân chủ quan từ nội tại ngân hàng bao gồm: thông tin phục vụ công tác thẩm định thiếu chính xác, việc định giá tài sản bảo đảm chƣa chính xác so với giá trị thực của tài sản, trình độ cán bộ tín dụng, cán bộ kiểm tra còn hạn chế và không đồng đều, hiện tƣợng bị chỉ đạo phải cho vay theo chỉ thị của lãnh đạo. Các nghiên cứu định lƣợng về các yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng. Chiếm đa số khi lựa chọn biến phụ thuộc thể hiện RRTD ngân hàng là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ cho vay.
Tỷ lệ này càng cao phản ánh mức độ rủi ro tín dụng càng cao vì đây là những khách hàng có dấu hiệu khó khăn về tài chính, khó trả nợ cho Ngân hàng. Một số nghiên cứu khác thì sử dụng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng làm chỉ báo cho mức độ rủi ro tín dụng (Daniel Foos (2010), Nguyễn Thị 6 Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều (2015), Phạm Xuân Quỳnh & Trần Đức Tuấn (2019)).