Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo nghiên cứu Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về hộ kinh doanh cá thể 2. Khái niệm về hộ kinh doanh cá thể Hiện nay ngoài các hình thức kinh doanh như các doanh nghiệp có quy mô lớn như các công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ phần hay tư nhân,… thì các doanh nghiệp quy mô nhỏ như DNNVV hay HKD cá thể là một trong những thành phần không thể thiếu, loại hình HKD cá thể này góp phần đa dạng hóa loại hình sinh thái trong môi trường kinh tế của quốc gia. Với quy mô kinh doanh tại tầm vừa và nhỏ thì loại hình này đang rất phổ biến và khả năng đem lại thu nhập cho người dân tại mọi địa bàn là rất lớn (Nguyễn Thanh Nhã và Cao Tấn Huy, 2023).
Tại Việt Nam, theo điều 78 Nghị định 01/2021/NĐ – CP thì HKD cá thể là loại hình kinh doanh mà cá nhân hay các thành viên thuộc hộ gia đình đăng ký với các cơ quan liên quan để thành lập, đồng thời chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình để hoạt động kinh doanh của hộ. Trong trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng kí HKD thì có thể ủy quyền cho một thành viên làm đại diện HKD. Hay cá nhân đăng kí HKD, người được các thành viên trong hộ gia đình ủy quyền cho làm đại diện HKD thì sẽ làm chủ HKD. Ngoài ra theo điều 78 Nghị định 01/2021/NĐ – CP cũng quy định rõ các hộ gia định sản xuất trong các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hay làm muối hoặc là những cá nhân bán hàng rong, buôn theo chuyến, kinh doanh có tính chất lưu động không cố định, thời vụ hay làm dịch vụ có thu nhập thấp thì không cần phải đăng kí HKD.
Ngoại trừ trường hợp các HKD thực hiện các hoạt động kinh doanh các loại hình ngành nghề có đầu tư với điều kiện cao. Trong đó, thì mức thu nhập thấp để không phải đăng kí HKD thì tùy thuộc vào thẩm quyền đánh giá của Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ quy định với phạm vi địa phương đó. Các quy định pháp lý của hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam Đối với HKD cá thể tại Việt Nam thì các quy định pháp lý được chỉ ra tại Nghị định 8 01/2021/NĐ – CP. Trong đó, tập trung vào các quy định chính sau: Đối tượng thành lập HKD cá thể: HKD thuộc sở hữu của một cá nhân là công dân có quốc tịch Việt Nam hoặc có thể do một nhóm người trong một hộ gia đình làm chủ.
Trong trường hợp HKD do một cá nhân là chủ thì đối tượng đó được toàn quyền quyết định với mọi vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của HKD đó. Trong hình thức thành lập này thì HKD do các thành viên trong nhóm hay hộ gia đình quyết định. Đồng thời, cử một cá nhân có năng lực để đại diện pháp luật, giao dịch với các bên liên quan. Ngành nghề đăng kí hoạt động sản xuất kinh doanh: HKD cá thể cần phải có hoạt động kinh doanh thường xuyên, có bậc thang nghề nghiệp mang tính ổn định thì mới được đăng kí.
Đối với các HKD trong các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hay làm muối hoặc là những cá nhân bán hàng rong, buôn theo chuyến, kinh doanh có tính chất lưu động không cố định, thời vụ hay làm dịch vụ có thu nhập thấp thì không cần phải đăng kí HKD. Hộ kinh doanh không phải doanh nghiệp: HKD cá thể được xem là một thực thể kinh doanh chuyên nghiệp, có tình tổ chức nhưng không được xem là doanh nghiệp. Nguyên nhân là vì HKD không có con dấu, không được phép mở rộng chi nhánh hay văn phòng đại diện. Mặt khác, các hoạt động xuất nhập khẩu không được tiến hành nếu kinh doanh thua lỗ.
Các thành viên trong HKD phải chịu trách nhiệm vô hạn: Trong quá trình hoạt động kinh doanh nếu phát sinh các khoản nợ từ các nguồn, thì cá nhân hay các thành viên tham gia HKD phải có trách nhiệm trả nợ, đồng thời không phụ thuộc trên số lượng tài sản kinh doanh hay dân sự đang sở hữu, dù HKD đang hay đã ngừng việc kinh doanh. Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể Theo các quy định tại Nghị định 01/2021/NĐ – CP thì ta có thể thấy hình thức HKD cá thể tập trung sự ảnh hưởng rất lớn vào các cá nhân hay thành viên trong hộ gia đình. Theo Nguyễn Thanh Nhã và Cao Tấn Huy (2023) thì các HKD cá thể còn có 9 những đặc điểm chính như sau: Đối với đặc điểm sở hữu thì HKD cá thể mang tính chất của một gia đình, các hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào nguồn vốn, tài sản, lực lượng và sức lao động của bản thân hay của các thành viên trong gia đình. Đối với số lượng HKD cá thể thì tốc độ phát triển khá nhanh cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế của quốc gia, các ngành nghề đa dạng với mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ kể cả giao thông vận tải,… Đối với tuân thủ các quy định pháp luật thì các HKD cá thể thường có xu hướng tránh né những sơ hở trong cơ chế và chính sách quản lý, để tự do kinh doanh hay tránh các khoản phí, thuế,… Đối với sự tư hữu thì HKD cá thể dựa trên các tư liệu sản xuất sẵn có của gia đình để quyết định hoạt động kinh doanh, từ khâu thu thập đầu vào cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ.
Do đó, tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh rất cao, việc tự mình kiểm soát nguồn nhân lực, sức lay động đặc biệt là chuyển đổi từ ngành nghề này sang hình thức khác cũng rất dễ dàng. Nên tiềm năng phát triển to lớn, sự phân bổ rộng khắp với sự quản lý có kinh nghiệm hay hiệu quả sẽ giúp cho các HKD phát huy được thế mạnh và duy trì lợi nhuận lâu dài. Lý thuyết về hoạt động cho vay đối với hộ kinh doanh cá thể 2. Khái niệm cho vay đối với hộ kinh doanh cá thể Theo khoản 1 điều 2 của thông tư 18/VBHN-NHNN quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với các đối tượng khách hàng thì cho vay được định nghĩa là “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, bên cho vay sẽ giao hay cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng với mục đích nào đó được xác định trong thời gian nhất định, việc cho vay này tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi vô điều kiện với thời gian tùy thuộc vào sự giao kết giữa hai bên”.
Vì vậy, dựa trên quy định trên thì cho vay đối với HKD cá thể được xem là hình thức cấp tín dụng của NHTM, dựa vào giao kết thì NHTM sẽ giao cho HKD cá thể một 10 số vốn để sử dụng vào một mục đích xác định theo nhu cầu của HKD trong một khoảng thời gian nhất định, đây được xem là thời hạn cho vay. Trong đó các giao kết giữa HKD và ngân hàng sẽ dựa trên chu kì kinh doanh, thời gian trả nợ và khả năng trả nợ của HKD trong thời hạn vay cố định. Chu kì vay của HKD cá thể được bắt đầu từ lúc ngân hàng giải ngân và kết thúc vào lúc HKD cá thể trả hết nợ gốc cho ngân hàng, lãi thu được tùy theo ngân hàng quy ước thu từng lần hay cuối kì với HKD. Đặc điểm cho vay đối với hộ kinh doanh cá thể Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì đặc điểm cho vay đối với khách hàng được phản ánh qua mục đích, số lượng quy mô khoản vay và các rủi ro của khoản vay.
Số lượng và quy mô khoản vay Theo Nguyễn Đăng Dờn (2011) thì cho vay đối với HKD cá thể thì số lượng hồ sơ vay rất nhiều nhưng quy mô vay thì lại nhỏ. Nguyên nhân chủ yếu là do các khoản vay này nhằm phục vụ bổ sung vốn kinh doanh tại HKD là chủ yếu, đối tượng lại là các HKD cá thể do đó số lượng sẽ đông đảo nhưng giá trị khoản vay được duyệt sẽ không lớn. Đối với hình thức vay này của các khách hàng thì đều bị các NHTM giới hạn về những điều kiện bắt buộc trong việc sử dụng nguồn vốn vì nó bị ảnh hưởng bởi năng lực trả nợ hàng kỳ và TSĐB có được thế chấp hay không ? Nhưng số lượng vay vẫn rất lớn vì đối tượng áp dụng khoản vay này là HKD thuộc mọi tầng lớp, không phân biệt các nhân tố nhân khẩu học và đặc biệt thu nhập từ thấp đến cao đều phù hợp. Mặt khác, nhu cầu và mục đích vay vốn đa dạng cùng với sự phát triển của xã hội và mong muốn cải thiện chất lượng cuộc sống của khách hàng.
Tiền lãi từ các khoản vay này thường được căn cứ vào quy định với mức lãi suất mà khách hàng và ngân hàng ký kết với nhau. Thông thường đối với hình thức vay này thì phương án tính lãi có thể là lãi gộp cuối kì hay giảm dần theo dư nợ, thời gian để khách hàng trả nợ tương đối dài để HKD thu xếp tình hình tài chính để trả hàng kỳ (tháng/quý/năm) hoặc trả vào cuối kỳ. Lãi suất cho vay thường có sự biến động hay điều chỉnh tùy theo sự thay đổi của thị trường kinh tế hay các chính sách của NHNN. 11 Đối với các khoản cấp tín dụng dành cho HKD thì quy mô dư nợ được cấp thường nhỏ nhưng số hợp đồng được thiết lập lại rất nhiều, vì số lượng HKD trong thị trường rất lớn.
Đồng thời, các khoản cấp tín dụng này thường được các NHTM xem xét đến các yếu tố như trình độ học vấn, công việc và thu nhập hiện tại hay điều kiện gia đình. Thông thường các đối tượng có thu nhập cao thì họ có thể được ngân hàng cho vay nhiều hơn và thời gian trả nợ có thể kéo dài, điều này mang lại thu nhập và nguồn lợi cho ngân hàng. Nhưng cũng đặt ra vấn đề khi người đứng đầu HKD càng hiểu biết thì họ lại càng nắm rõ các sản phẩm thì thường và sẽ cân nhắc để lựa chọn có lợi cho mình giữa thời hạn và lãi suất vay. Vì vậy, các khoản vay đối với các HKD thường được họ cân nhắc sử dụng khi khẩn cấp nhằm thanh toán tức thời cho các trường hợp bổ sung vốn cấp bách.