Mở đầu Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về tăng trƣởng tín dụng của hệ thống ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng tăng trƣởng tín dụng tại các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Chƣơng 3: Mô hình nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Kết luận và kiến nghị 9 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TĂNG TRƢỞNG TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1.
Tín dụng và tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Tín dụng là khái niệm tồn tại rất lâu đời, theo nghĩa Latin, tức là sự tín nhiệm, tin tƣởng. Tên gọi này xuất phát từ bản chất của mối quan hệ tín dụng, ngƣời cho vay tin tƣởng rằng ngƣời đi vay sẽ sử dụng vốn đúng mục đích, đúng thỏa thuận và có khả năng hoàn trả tiền vay. Nhƣ vậy, tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng một lƣợng giá trị dƣới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lƣợng giá trị lớn hơn.
Tín dụng là quan hệ vay mƣợn dựa trên nguyên tắc hoàn trả có kèm theo lợi tức. Nó thỏa mãn nhu cầu của hai bên, bên đi vay có đƣợc số vốn mình cần, bên cho vay có đƣợc lợi tức. Trong lĩnh vực kinh tế, tín dụng đƣợc hiểu là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết trả theo thời hạn và lãi đã thỏa thuận (Nguyễn Thị Hoài Phƣơng, 2012). Quan hệ tín dụng đƣợc phát sinh ngay từ thời kỳ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã.
Khi chế độ tƣ hữu tƣ liệu sản xuất xuất hiện, cũng đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này tín dụng đƣợc thực hiện dƣới hình thức vay mƣợn hiện vật. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, các hình thức tín dụng mới ngày càng phong phú, đa dạng hơn nhƣ: tín dụng nhà nƣớc, tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng. Trong các hình thức trên, tín dụng ngân hàng là hình thức quan trọng bởi vì nó cung cấp phần lớn nhu cầu cho các chủ thể kinh tế.
Do đó nó là mối quan hệ bình đẳng, cả hai cùng có lợi và mang tính thỏa thuận cao. Có thể thấy rằng, một quan hệ đƣợc gọi là tín dụng phải có đầy đủ cả ba mặt sau: 10 - Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lƣợng giá trị từ ngƣời cho vay sang ngƣời đi vay. - Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời. - Khi hoàn lại lƣợng giá trị đã chuyển giao phải kèm theo một lƣợng giá trị tăng thêm gọi là lợi tức.
Xét ở góc độ ngân hàng thì tín dụng đƣợc hiểu là: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mƣợn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định”. Tóm lại, tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu là một thỏa thuận giữa ngƣời cho vay là ngân hàng, ngƣời đi vay có thể là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế xã hội khác. Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng và chủ yếu trong nền kinh tế hiện nay. Đất nƣớc càng đổi mới, càng phát triển thì tín dụng ngân hàng càng thể hiện đƣợc vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tín dụng, ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu và hiệu quả nhất trong nền kinh tế nói chung.2 Phân loại: Tùy vào mỗi tiêu thức theo mục đích khác nhau mà ngƣời ta có thể phân loại tín dụng, sau đây là một số tiêu thức phân loại điển hình.
* Căn cứ theo thời hạn tín dụng: + Tín dụng ngắn hạn: là tín dụng có thời hạn dƣới 12 tháng. Tín dụng ngắn hạn thƣờng gắn liền với các khoản vay cá nhân hay các doanh nghiệp nhằm bổ sung vào tài sản lƣu động, tài trợ mang tính thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các khoản chi phí sản xuất. + Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng. Tín dụng trung hạn thƣờng sử dụng cho mục đích mua các loại tài sản cố định nhƣ phƣơng tiện sản xuất, phƣơng tiện vận tải, trang thiết bị hiện đại… có nhu cầu vốn từ 1 đến 5 năm.
+ Tín dụng dài hạn: là tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Tín dụng dài hạn thƣờng đƣợc sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn, thƣờng cho vay theo dự án đầu tƣ. 11 * Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay: + Tín dụng tiêu dùng: là tín dụng cung cấp cho các cá nhân với mục đích tiêu dùng, thƣờng là để mua sắm nhà cửa, xe cộ, thiết bị gia đình…Các ngân hàng hiện nay đều có xu hƣớng chuyển dịch sang bán lẻ nên loại hình tín dụng này ngày càng tăng lên. + Tín dụng sản xuất: là loại tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất.
Loại tín dụng này chiếm tỷ trọng khá cao tại các ngân hàng. + Tín dụng xuất nhập khẩu: là hình thức cung cấp tín dụng cho hoạt động thu mua hoặc sản xuất hàng hóa để xuất nhập khẩu. * Căn cứ vào hình thức cho vay: + Chiết khấu: là việc ngân hàng thƣơng mại ứng trƣớc tiền cho khách hàng với giá trị thƣơng phiếu sau khi đã trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thƣơng phiếu chƣa đến hạn. + Cho vay: là việc ngân hàng thƣơng mại cấp tín dụng cho khách hàng của mình với cam kết là khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng trong một khoảng thời gian xác định với mức lãi suất cam kết.
Cho vay là nghiệp vụ truyền thống và chủ yếu của các ngân hàng. + Bảo lãnh: là nghiệp vụ ngân hàng thƣơng mại cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng của mình không có khả năng trả nợ với bên thứ ba. * Căn cứ vào tài sản đảm bảo: + Tín dụng có tài sản đảm bảo: là khoản tín dụng có sự cam kết của khách hàng về việc dùng tài sản đảm bảo thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ tài chính trong trƣờng hợp không trả đƣợc nợ. + Tín dụng không có tài sản đảm bảo: là khoản tín dụng mà khách hàng có nhu cầu vay vốn với hạn mức nhất định mà không có tài sản đảm bảo, chỉ dựa vào tín chấp.
Loại hình này thƣờng đƣợc áp dụng đối với khách hàng lâu dài và có quan hệ tốt đẹp với ngân hàng, khách hàng phải có tình hình tài chính vững mạnh, ổn định, lịch sử tín dụng tốt, dự án kinh doanh khả thi, có khả năng trả nợ… 12 * Căn cứ vào đối tƣợng khách hàng: + Tín dụng cá nhân: là hình thức cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua sắm nhà cửa, ô tô, vay chứng minh tài chính du học…Nhóm đối tƣợng này có số lƣợng rất lớn và có nhu cầu vay các khoản nhỏ lẻ, tuy nhiên khá nhạy cảm nên cần chú trọng phƣơng pháp tiếp cận và khai thác tốt. + Tín dụng doanh nghiệp: là hình thức cấp tín dụng cho các đối tƣợng là doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế, nhằm hỗ trợ việc đầu tƣ sản xuất kinh doanh cũng nhƣ hỗ trợ việc đầu tƣ của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. * Căn cứ vào hình thái của tín dụng: + Cho vay bằng tiền: Là hình thức cho vay chủ yếu của các ngân hàng và việc cho vay đƣợc thực hiện bằng các nghiệp vụ khác nhƣ tín dụng ứng trƣớc, thấu chi, tín dụng trả góp, thời vụ… + Cho vay bằng tài sản: Loại cho vay này thƣờng dƣới hình thức Ngân hàng cho vay bằng tài trợ thuê mua. Theo phƣơng thức này ngân hàng thƣơng mại hoặc công ty cho thuê tài chính của ngân hàng thƣơng mại cung cấp tài sản trực tiếp cho ngƣời đi vay đƣợc gọi là ngƣời đi thuê và ngƣời đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi khi đến hạn.3 Đặc điểm tín dụng ngân hàng Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn ngƣời đi vay thì tin tƣởng vào khả năng kiếm đƣợc tiền trong tƣơng lai để trả nợ gốc và lãi vay. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhƣợng một tài sản có thời hạn vay hay có tính hoàn trả. Ngân hàng là trung gian tài chính đi vay để cho vay nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn và bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải cả lãi.
Nếu không có sự hoàn trả thì không coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi đây chính là giá của quyền sử 13 dụng vốn vay. Khoản lãi bù đắp đƣợc chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thứ tƣ, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng.
Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn là rất khó. Vì luôn tồn tại thông tin bất cân xứng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Ngoài ra việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng mà còn phụ thuộc vào môi trƣờng hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng, nhƣ giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát và thiên tai…khi khách hàng gặp khó khăn do môi trƣờng kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả không điều kiện. Quá trình cho vay và xin vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ nhƣ: hợp đồng tín dụng, khế ƣớc nhận nợ, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh… trong đó bên đi vay (và bên bảo lãnh nếu có) phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng cho đến khi đến hạn.