Chương 1: Giới Thiệu Chương 2: Lý thuyết mô hình phân tích sống sót trong đo lường rủi ro tín dụng Chương 3: Đo lường rủi ro tín dụng của khách hàng cá nhân tại vietcombank Chương 4: Xây dựng mô hình phân tích sống sót đo lường rủi ro tín dụng và kết quả nghiên cứu. 2 123doc Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 1.5 Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp thêm cơ sở khoa học cho các tổ chức tài chính, và các cá nhân liên quan, đặc biệt là NH TMCP Ngoại Thương Việt Nam trong quá trình hoạt động kinh doanh và quản lý rủi ro của mình. Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho các chủ thể tham gia vào quá trình chấm điểm tín dụng cũng như cho những nghiên cứu liên quan đến chấm điểm tín dụng cá nhân. Tóm tắt chương Trong chương này, tác giả giới thiệu về đề tài nghiên cứu và nguyên nhân sử dụng mô hình phân tích sống sót trong việc ước lượng xác suất vỡ nợ của một khách hàng cá nhân.
Tác giả cũng chỉ ra được hai mục tiêu trọng tâm của bài là: Xây dựng mô hình phân tích sống sót và ứng dụng mô hình phân tích sống sót trong đo lường rủi ro tín dụng, thông qua các dữ liệu được thu thập trong thực tiễn. 3 123doc Chương 2. LÝ THUYẾT MÔ HÌNH PHÂN TÍCH SỐNG SÓT TRONG ĐO LƯỜNG RỦI RO TÍN DỤNG 2.1 Lý thuyết chung về rủi ro tín dụng ngân hàng 2.1 Định nghĩa rủi ro Theo định nghĩa truyền thống rủi ro là những sự kiện xảy ra có thể làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ. Định nghĩa về rủi ro hiện đại bao hàm nghĩa rộng hơn và không chỉ tính đến rủi ro tài chính và còn bao gồm cả những rủi ro liên quan đến những mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược.
Rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trường. Chấp nhận rủi ro là trung tâm của hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro-lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng.
Đối với ngân hàng, các tài sản chủ yếu là các khoản tiền gửi tại các ngân hàng nước ngoài và các khoản cho vay khách hàng cần phải có mức độ thanh khoản cần thiết để bảo đảm thanh toán cho các khoản tiền gửi của khách hàng, chi phí hoạt động, và các khoản lỗ, đồng thời vẫn tạo ra một khoản lợi nhuận đủ lớn đẻ có được tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hợp lý (cẩm nang quản lý rủi ro của Vietcombank).2 Rủi ro tín dụng Bất chấp tầm quan trọng của những nguồn rủi ro khác trong ngân hàng, rủi ro lớn nhất đối mặt với hầu hết các ngân hàng và các định chế tài chính là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là vấn đề trọng yếu đối với người cho vay (Brian và Collen, 1997). Thật ra, rủi ro tín dụng là nguyên nhân đầu tiên cho sự phá sản của đa số các định chế tài chính trong thập kỷ qua. Do vậy, có rất nhiều nghiên cứu từ các phân tích trong 2 thập kỷ qua với sự phát triển những kỹ thuật phân tích rủi ro tín dụng.
4 123doc Rủi ro tín dụng cũng là một trong những rủi ro lâu đời mà các ngân hàng cũng như các định chế tài chính phải đối mặt trước đó, ít nhất từ năm 1800 trước công nguyên. Rủi ro vỡ nợ của người đi vay – đối với lãi suất và/hoặc nợ gốc- có thể gây ra tổn thất vốn cho ngân hàng dẫn đến phá sản. Quản trị loại rủi ro này bằng cách chọn và quan sát người đi vay và bằng cách tạo ra một danh mục các tiền cho vay đa dạng luôn luôn là một trong những thách thức trong vận hành một định chế tài chính. Rủi ro tín dụng phát sinh bất cứ lúc nào khi ngân hàng mở rộng, cam kết, đầu tư hoặc những phát sinh khác mà ngân hàng tài trợ thông qua những thỏa thuận bằng hợp đồng tiềm ẩn hoặc thực sự, thể hiện trên hoặc ngoài bảng cân đối kế toán (Cục kiểm soát tiền tệ của ngân hàng Quốc Gia Hoa Kỳ, 1999).
Theo Ủy ban Basel (Basel,2000), rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa là: Khả năng mà người đi vay ngân hàng hoặc đối tác sẽ không trả được nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận. Mục tiêu của quản trị rủi ro là là tăng tỷ lệ thu hồi nợ của ngân hàng bằng cách duy trì phát sinh rủi ro tín dụng trong giới hạn phù hợp. Quản trị rủi ro tín dụng cũng cần xử lý cho toàn bộ các danh mục. Quan hệ giữa rủi ro tín dụng và các rủi ro khác cũng nên được xem xét song song.
Quản trị hiệu quả của rủi ro tín dụng là một phần quan trọng của phương pháp toàn diện đối với quản trị rủi ro và là điều quan trọng đối với thành công dài hạn của bất kỳ ngân hàng nào. Đối với hầu hết ngân hàng, và bất chấp các nguồn phát sinh rủi ro tín dụng có tồn tại ở nhiều hoạt động ở ngân hàng, có thể hiện trên hoặc ngoài bảng cân đối kế toán hoặc không, các khoản tiền cho vay được xem là nguồn rủi ro tín dụng chính, dù cho đâu đó các nguồn rủi ro tín dụng khác vẫn tồn tại. Mức độ rủi ro tín dụng được phát hiện tăng dần trong nhiều công cụ tài chính chẳng hạn các giao dịch ngoại hối, các hợp đồng tương lai tài chính, hoán đổi, trái phiếu, cổ phần, quyền chọn, và sự mở rộng các cam kết và đảm bảo, và thanh toán các giao dịch (Basel, 2000). Phấn lớn các nhà nghiên cứu đề cập đến rủi ro tín dụng và rủi ro vỡ nợ thường có ý nghĩa tương tự nhau nhưng có một khác biệt nhỏ trong định nghĩa.
Ở đây, rủi ro tín dụng là: rủi ro của các tổn thất thông qua sự không thanh toán được 5 123doc các nghĩa vụ tài chính. Trong khi đó rủi ro vỡ nợ là: rủi ro mà chủ thể phát hành sẽ không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính của mình đối với nhà đầu tư/chủ nợ theo các điều khỏan bắt buộc. Trong thuật ngữ này, rủi ro tín dụng thường ám chỉ đến người đi vay là người có khả năng hoàn trả một tiền cho vay có một mức độ tổn thất tiềm ẩn, trong khi đó rủi ro vỡ nợ thường liên quan đến người cho vay là người có thể không thanh toán. Vì thế, người ta có thể nói rằng không có sự khác biệt lớn giữa hai loại rủi ro này, chúng có thể cùng được định nghĩa như sau: rủi ro tín dụng/vỡ nợ là rủi ro mà các nghĩa vụ tài chính của người đi vay trong một thỏa thuận sẽ không được thực hiện thỏa đáng.2 Phân tích rủi ro tín dụng Nhiều định chế tài chính sử dụng một số công cụ để xác định rủi ro tín dụng.
Theo Sathye và các cộng sự (2003) thì những công cụ này có thề được chia thành 4 nhóm chính: (i) các hệ thống chuyên gia; (ii) phân tích phần bù rủi ro; (iii) Phương pháp thống kê kinh tế lượng; (iv) các hệ thống kết hợp. Trong đó, phương pháp phân tích phần bù, phương pháp thống kê và hệ thống kết hợp sẽ lượng hoá độ rủi ro tín dụng.1 Các hệ thống chuyên gia Các hệ thống chuyên gia (hoặc hệ thống truyền thống) là một hình thức kinh điển của phân tích tín dụng phụ thuộc và sự phán xét chủ quan của người thẩm định tín dụng. Trong hệ thống này, đối với một số lý do kinh nghiệm của người làm công tác thẩm định lâu năm (hay còn gọi là các chuyên gia phê duyệt) là quan trọng: (i) Người chuyên gia phê duyệt tín dụng tuân theo các giới hạn của quy định ngân hàng; (ii) Người phê duyệt tín dụng là điểm gốc của quy luật ngón tay cái; (iii) ngân hàng dựa vào những chuyên gia phê duyệt kinh nghiệm để thực hiện phần lớn các vấn đề quan trọng như hiểu xu hướng ngành, đánh giá sự độ đáng tin cậy về khả năng trả nợ của người đi vay, hoặc thiết kế cấu trúc tín dụng mà theo đó ngân hàng sẽ cho vay. Người cho vay nhận đơn đề nghị vay theo mẫu đã được thiết kễ sẵn và một danh sách kiểm tra/ chứng từ cần cung cấp do ngân hàng đưa ra.
Sau đó, đơn đề nghị và chứng từ được phân tích và đánh giá bởi người phê duyệt. Nếu tiền cho vay 6 123doc được chấp nhận bởi một chuyên gia hay hệ thống hội đồng tín dụng (tuỳ theo từng hạn mức phê duyệt cụ thể của từng tổ chức tín dụng) thì số tiền cho vay được giải ngân thông qua các bộ phận khác tại ngân hàng. Kỹ thuật thông thường nhất của loại này là phân tích 6Cs. Tuy nhiên, hệ thống chuyên gia dĩ nhiên có điểm yếu.
Trước hết, đó là sự chủ quan; ra quyết định phụ thuộc và người thẩm định có thể dễ bị ảnh hưởng bên ngoài như các quan hệ xã hội và quan hệ cá nhân. Thứ hai, sự thi hành những hệ thống này thì không công bằng, vì thế sự thành công hay thất bại của hệ thống phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự thực hiện của người thẩm định tín dụng. Ví dụ, một số người thẩm định có tài phân tích rủi ro tín dụng hiệu quả và những người khác thì không có. Ngoài ra, các hệ thống chuyên gia thì khá tốn chi phí.
Ví dụ, việc chuẩn bị và thực hiện của những hệ thống này yêu cầu nhân viên/cấp lãnh đạo có năng lực và kinh nghiệm. Thêm vào đó, các hệ thống chuyên gia có liên quan đến hệ thống quan liêu của hoạt động kinh doanh và nó gây ra lãng phí thời gian ra quyết định. Vì thế, để khắc phục những bất lợi này, nhìn chung các nhà kinh tế tranh luận rằng tốt nhất nên áp dụng các hệ thống khách quan không phụ thuộc vào phán quyết chủ quan của người cho vay.