chương 1, tác giả đã trình bày tổng quát về đề tài đang nghiên cứu thông qua tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và phương pháp phân tích đề tài. Qua đó, ta sẽ có cái nhìn tổng quan về nội dung, quá trình hình thành đề tài, cũng như những đóng góp của đề tài trong thực tiễn; từ đó, sẽ làm cơ sở cho việc tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn ở các chương tiếp theo. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng 2.
Khái niệm, đặc điểm 2. Khái niệm Theo khoản 1 điều 3 Quyết địh 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng, định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tác hoàn trả gốc và lãi”. Theo tiến sĩ Bùi Diệu Anh (2012), cho vay là hành vi cho người khác sử dụng một khoản tiền nhất định, trong một thời hạn xác định với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi khi đáo hạn. Hoạt động cho vay được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội, như Chính phủ, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, cá nhân … Trong đó ngân hàng thương mại được biết như là một tổ chức chuyên thực hiện cho vay với lực lượng khách hàng đông đảo nhất.
Hoạt động cho vay của ngân hàng được hình thành từ rất sớm. Chỉ một thời gian ngắn sau khi các hoạt động thu nhận tiền gửi đầu tiên hình thành, các ngân hàng sơ khai đã ý thức được việc sử dụng những khoản tiền gửi của khách hàng để cho những người thiếu tiền mượn lại, từ đó mà hình thành nên hoạt động cho vay của ngân hàng. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Doanh nghiệp được chia theo quy mô thành: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn.
Cho vay đối với doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại là một hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm Cho vay khách hàng doanh nghiệp có với nhiều hình thức đa dạng và các chương trình ưu đãi, bao gồm cho vay tín chấp, cho vay thế chấp tài sản và bảo lãnh. Điều kiện cho vay và lãi suất được quy định cụ thể đối với từng đối tượng khác hàng doanh nghiệp khác nhau, phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp, ngành nghề kinh 11 doanh,. Các chương trình ưu đãi cũng được quy định cụ thể, phụ thuộc vào gắn bó giữa doanh nghiệp và ngân hàng, mà doanh nghiệp sẽ nhận được những lợi ích nhất định từ ngân hàng.
Cho vay đối tượng là doanh nghiệp được xem là loại hình cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Góp phần quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận cho các NHTM và đóng góp vào lợi ích chung của đất nước ở những quốc gia phát triển và những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Các hỗ trợ và ưu đãi trong khoản cho vay của ngân hàng dành cho doanh nghiệp, nhằm thể hiện vai trò trụ cột của ngân hàng trong nền kinh tế và hoàn thành nghĩa vụ là trụ đỡ vững chắc cho doanh nghiệp, đặc biệt là trong thời kỳ nền kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động, chẳng hạn như tranh chấp chủ quyền, các thỏa thuận thương mại không thành công, chiến tranh, đảo chính hay đại dịch COVID – 19 đang diễn ra và các hệ lụy sau đó. Vai trò Hoạt động cho vay đảm bảo cho ngân hàng thực hiện được chức năng trung gian tài chính của mình đối với nền kinh tế.
Mặt khác, căn cứ vào bảng cân đối tài sản của NHTM, nghiệp vụ cho vay luôn là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng và là khoản mục mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Do vậy nghiệp vụ cho vay của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên đây cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng. Để các hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp diễn ra liên tục và thuận lợi, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn.
Bên cạnh nguồn vốn tự có, tín dụng thương mại, nguồn vốn vay từ ngân hàng lâu nay đã trở thành một nguồn vốn thường xuyên và cần thiết đối với doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của đa số các doanh nghiệp. Ngân hàng với chức năng trung gian tài chính, tạo tiền và luân chuyển nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu trong thị trường. Thông qua nghiệp vụ cho vay, ngân hàng đã cung cấp một lượng lớn nguồn vốn cho nền kinh tế, để biến nguồn tiền tiết kiệm thành nguồn tiền đầu tư. Qua đó góp phần duy trì và phát triển nền kinh tế trong nước.
12 Hiệu quả cho vay được xem là đáp ứng một cách phù hợp nhất về nhu cầu vốn của khách hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn, sinh lợi cho ngân hàng. Phân loại cho vay theo thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay theo thời hạn dưới 12 tháng, nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh hoặc cá nhân. Ngân hàng có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc cho vay gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc không có tài sản đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển. - Cho vay trung hạn: Các khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm thì được xếp vào cho vay trung.
Các khoản này thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng dư nợ cho vay của các NHTM, chiếm phần lớn lợi nhuận mà hoạt động cho vay mang lại. Đồng thời mang lại rủi ro khá cao. - Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm. Cho vay dài hạn nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản như xây dựng nhà ở, sân bay, cầu đường, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới… 2.
Phân loại theo hình thức cho vay - Cho vay tín chấp: là một trong những gói sản phẩm hỗ trợ bổ sung vốn kinh doanh và mua sắm tài sản cố định do ngân hàng cung cấp. Gói vay này giúp thúc đẩy quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi cần huy động vốn để đầu tư dự án, kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất, tái đầu tư. - Thấu chi tài khoản doanh nghiệp: Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp và cá nhân vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… là hình thức cho vay nhằm giúp doanh nghiệp bổ sung vốn kinh doanh lưu động (phần thiếu hụt tạm thời) trong hoạt động sản xuất kinh doanh. - Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa, áp dụng đối với các doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Khách hàng được đáp ứng vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ ngắn 13 gọn. Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hóa tồn đọng…) thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng. - Cho vay thế chấp tài sản hoặc hóa đơn: là hình thức ngân hàng cho đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vay vốn có sự đảm bảo bằng tài sản thế chấp như tài sản cố định của doanh nghiệp, giấy đăng ký kinh doanh… Ngân hàng sẽ giữ lại các giấy tờ liên quan về tài sản thế chấp đó, còn quyền sở hữu thì vẫn thuộc về doanh nghiệp. Tuy nhiên việc đánh giá tài sản đảm bảo cũng là một khó khăn đòi hỏi phải có sự thẩm định kỹ lưỡng, tránh định giá quá cao gây thiệt hại cho ngân hàng hoặc quá thấp gây ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của khách hàng.
- Bảo lãnh: là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh – ngân hàng) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Bao gồm các hình thức bảo lãnh như: Bảo lãnh vay vốn (hay bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ tiền vay); Bảo lãnh thanh toán; Bảo lãnh dự thầu;…Các loại bảo lãnh khác mà pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệ quốc tế. Cơ sở lý thuyết quyết định cho vay khách hàng doanh nghiệp 2. Khái niệm quyết định cho vay Theo Quyết định số 39/2016/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng: - Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay.
- Tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay. - Tổ chức tín dụng quy định cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải thông báo quyết định cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng, kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàng.