CHƯƠNG 1 Trong chương này luận văn đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu cũng như các câu hỏi nghiên cứu đề ra. Nhằm giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu thì luận văn cũng đã xác định đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu cần giải quyết và các phương pháp dự kiến để giải quyết các vấn đề. Đồng thời, chương này cũng trình bày một số đóng góp của luận văn và kết cấu dự kiến của các chương. Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây sẽ được nghiên cứu ở chương tiếp theo.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khả năng sinh lời và chỉ tiêu đo lường trong công ty 2. Khái niệm khả năng sinh lời Theo nguyên tắc kế toán doanh thu điều 78 thông tư 200 “doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của công ty ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi thu được lợi ích về mặt kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền.
Doanh thu của các công ty bất động sản phần lớn đến từ chuyển nhượng bất động sản, bán hàng và hoạt động khác như cho thuê bất động sản đầu tư, dịch vụ khách sạn, du lịch, vui chơi giải trí, y tế và giáo dục” (Điều 78 thông tư 200). Doanh thu của các công ty BĐS phần lớn đến từ chuyển nhượng bất động sản, bán hàng và hoạt động khác như cho thuê bất động sản đầu tư, dịch vụ khách sạn, du lịch, vui chơi giải trí, y tế và giáo dục. Doanh thu bán bất động sản của công ty là chủ đầu tư phải thực hiện theo nguyên tắc: (1) đối với các công trình, hạng mục công trình mà công ty là chủ đầu tư (kể cả các công trình, hạng mục công trình công ty vừa là chủ đầu tư, vừa tự thi công), công ty không được ghi nhận doanh thu bán bất động sản theo Chuẩn mực kế toán Hợp đồng xây dựng và không được ghi nhận doanh thu đối với số tiền thu trước của khách hàng theo tiến độ. (2) Đối với các công trình, hạng mục công trình mà công ty là chủ đầu tư (kể cả các công trình, hạng mục công trình công ty vừa là chủ đầu tư, vừa tự thi công), trường hợp khách hàng có quyền hoàn thiện nội thất của bất động sản và công ty thực hiện việc hoàn thiện nội thất của bất động sản theo đúng thiết kế, mẫu mã, yêu cầu của khách hàng thì công ty được ghi nhận doanh thu khi hoàn thành, bàn giao phần xây thô cho khách hàng.
Trường hợp này, công ty phải có hợp đồng hoàn thiện nội thất bất động sản riêng với khách hàng, trong đó quy định rõ yêu cầu của khách hàng về thiết kế, kỹ thuật, mẫu mã, hình thức hoàn thiện nội thất bất động sản và biên bản bàn giao phần xây thô cho khách 8 hàng. (3) Đối với bất động sản phân lô bán nền, nếu đã chuyển giao nền đất cho khách hàng (không phụ thuộc đã làm xong thủ tục pháp lý về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa) và hợp đồng không hủy ngang, chủ đầu tư được ghi nhận doanh thu đối với nền đất đã bán. Tổng tài sản của công ty là toàn bộ giá trị tài sản hiện có thuộc quyền sở hữu, quản lý của công ty. Đây cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để so sánh quy mô giữa các công ty.
Khả năng sinh lời hay còn được gọi tỷ suất lợi nhuận là một phạm trù kinh tế chỉ ra khả năng tạo ra lợi nhuận và phản ánh hiệu quả của công ty. “Khả năng đạt được lợi nhuận có thể được gọi là khả năng sinh lời của công ty. Khả năng sinh lời của một công ty là kết quả so sánh hiệu quả được cụ thể hóa trong doanh thu, cùng với sự nỗ lực, được phản ánh thông qua chi phí” (Andreica và Alexa, 2012). “Lợi nhuận được xác định bằng cách trừ đi chi phí ra khỏi doanh thu.
Lợi nhuận có thể trở thành thước đo tốt về hiệu quả của công ty, vì thế sử dụng khả năng sinh lời như một thước đo hiệu quả tài chính của công ty, cũng như khả năng sinh lời là lời hứa duy trì hoạt động liên tục trong tương lai” (Agha, 2014). Theo Shosha (2014) lợi nhuận có một vai trò to lớn đối với sự sống còn của một công ty trong một môi trường cạnh tranh. “Đạt được lợi nhuận là ý tưởng chính của tất cả các công ty. Đo lường khả năng sinh lời trong quá khứ và hiện tại là rất quan trọng.
Đồng thời việc dự đoán khả năng sinh lời trong tương lai cũng là việc thiết yếu đối với sự tồn tại của công ty”. Hay Velmathi (2015) cho rằng KNSL là một dấu hiệu thể hiện rằng công ty đã đạt được một mức độ thu nhập nhất định. “Khả năng sinh lời là khả năng tạo được lợi nhuận và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự tồn tại của công ty”. Tóm lại, “khả năng sinh lời là một phạm trù kinh tế thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận và phản ánh hiệu quả của công ty.
Tỷ suất này như là một thước đo hiệu quả 9 hoạt động của công ty là lời hứa duy trì hoạt động liên tục trong tương lai và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự tồn tại của công ty” (Diaz, 2017). Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời trong công ty Để đánh giá khả năng sinh lời của công ty thì các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thường được sử dụng, vì nó đo lường mức độ hiệu quả của hoạt động công ty, xác định công ty có hoạt động hiệu quả hay không và thể hiện trình độ kinh doanh của các nhà kinh doanh trong việc sử dụng các nhân tố đó. Theo Lesakova (2007) khả năng sinh lời là biểu thị chỉ số về sức khỏe tài chính của công ty. “Khả năng sinh lời thường được đo lường thông qua biến số tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE”.
Có một số nghiên cứu chỉ sử dụng ROA để đo lường khả năng sinh lời của công ty như nghiên cứu của Tailab (2014), Lee (2014), Odusanya và cộng sự (2018), Ngô Thị Ngọc và cộng sự (2020). “Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản là chỉ số đo lường mức sinh lợi của một công ty so với chính tài sản của nó. Chỉ tiêu ROA cho biết công ty có quá trình tổ chức và quản ý hoạt động sản xuất kinh doanh của mình có hiệu quả hay không. Là chỉ số cho biết mỗi đồng đầu tư vào tài sản sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, phán ánh hiệu quả sử dụng tài sản”.
Bên cạnh đó, ROE cũng là chỉ tiêu đo lường phổ biến được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của công ty Andersson và Minnema (2018), Fatimah và Prakoso (2019). Khác với ROA, ROE phản ánh khả năng sử dụng đồng vốn của công ty để đem lại lợi nhuận cho công ty trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Là chỉ số cho biết mỗi đồng đầu tư của vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập, giúp phản ánh năng lực tạo sản phẩm có chi phí thấp hoặc giá bán cao của công ty. Việc xem xét chỉ tiêu này là vô cùng quan trọng và giúp cho ban lãnh đạo công ty xác định được mục tiêu kinh doanh của đơn vị là tối đa hóa quy mô của công ty.
10 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản là thước đo đo lường lợi nhuận thu được trên mỗi đồng tài sản của công ty. Tỷ suất này được tính bằng tỷ số lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản. Tỷ suất này cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tùy thuộc vào mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh, sẽ có ngành tỷ suất này sẽ rất cao (ăn uống, dịch vụ, du lịch,.
Ngược lại có một số ngành tỷ suất này sẽ khá thấp (kinh doanh vàng bạc, kinh doanh ngoại tệ, gia công, …) Tỷ suất lợi nhuận trên Lợi nhuận sau thuế = X 100 % tổng tài sản (ROA) Tổng tài sản ROA là một trong những nhân tố quan trọng, giúp các nhà quản trị công ty đầu tư theo chiều rộng như mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng, mở rộng thị phần, …điều đó càng quan trọng hơn đối với các công ty BĐS. Để có được những khối BĐS lớn, giá trị cao như cao ốc, chung cư cao cấp, căn hộ dịch vụ, nhà đất, …thì công ty cần khối tài sản lớn để xây dựng, sửa chửa. Vì vậy chỉ số ROA có tác động rất lớn đến việc đánh giá xem tài sản đó có được công ty sử dụng hiệu quả hay chưa. Theo tiêu chuẩn quốc tế chỉ số ROA của một công ty có đủ năng lực tài chính phải lớn hơn 7.
Tuy nhiên không có con số tuyệt đối ROA bao nhiêu là tốt. Các công ty cũng cần xem xét chỉ số này trong nhiều năm, tốt nhất là 3 năm trở lên để có thể đưa ra các đánh giá khả quan. Nếu một doanh nghiệp có thể duy trì được ROA lớn hơn hoặc bằng 10% ít nhất trong 3 năm thì được đánh giá là hiệu quả kinh doanh tốt. Doanh nghiệp sử dụng tài sản hiệu quả khi ROA có xu hướng tăng lên.
11 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thiết kế để đo lường KNSL trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu. Tỷ suất này được xác định bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ. “Chỉ số ROE thể hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn của các công ty, hay nói cách khác việc một đồng vốn công ty bỏ ra sẽ đem lại được bao nhiêu đồng lời” (Diaz, 2017). Tỷ suất này phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty trong kỳ, quy mô và mức độ rủi ro của công ty.
Tỷ suất lợi nhuận trên Lợi nhuận sau thuế = X 100 % vốn chủ sở hữu (ROE) Vốn chủ sở hữu Tỷ suất này càng cao càng chứng tỏ công ty này sử dụng đồng vốn có hiệu quả, khả năng thu hồi vốn của các cổ đông cao. Tỷ suất này suy giảm là một bằng chứng cho thấy việc đầu tư của công ty không mang lại hiệu quả so với thời gian trước đây.