Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu: 1. Tổng quan tài liệu nước ngoài: Hua (2015) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu về khoa học công nghệ trong nông nghiệp của nông dân tại Trung Quốc, đã chỉ ra trình độ học vấn của chủ hộ có tác động đến việc ứng dụng tiễn bộ khoa học, công nghệ trong sản xuất. Chủ hộ có trình độ học van cao hơn có nhu cầu sử dụng công nghệ trong sản xuất cao hơn so với chủ hộ có trình độ học vấn thấp hơn.
Tuổi của chủ hộ có tác động đến nhu cầu sử dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, tuổi chủ hộ càng cao khả năng sử dụng công nghệ trong sản xuất càng thấp. Ngoài ra, yếu tố giới tính của chủ hộ có tác động đến việc ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, chủ hộ là nam giới có nhu cầu ứng dụng công nghệ trong sản xuất cao hơn chủ hộ là nữ giới. Nghiên cứu của Yang và Li (2014), nhận định việc tham gia tô chức xã hội, cộng đồng có tác động tích cực đến việc ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiép. Yếu tố thu nhập của chủ hộ có tác động đến việc ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp; theo đó chủ hộ có thu nhập cao thì có khả năng về tài chính dé đầu tư công nghệ trong sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, chủ hộ có trình độ kỹ thuật cao thì khả năng ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất cảng cao. Theo nghiên cứu của Dehinenet và cộng sự (2014), nông dân có nhiều kinh nghiệm trồng trọt sẽ sẵn sang chấp nhận công nghệ mới. Số lao động tham gia sản xuất nông nghiệp có tác động đến việc ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Thu nhập của hộ từ sản xuất nông nghiệp càng tăng thì khả năng hộ đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất tăng.
Khi có sự hỗ trợ của Nhà nước thì khả năng hộ ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp càng tăng hơn so với khi không có sự hỗ trợ của Nhà nước. Pugazhenthi (2013) nghiên cứu về hiệu quả sản xuất của mô hình canh tác các giống lúa tại tỉnh Chiang Mai, Thái Lan. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của các giống lúa lai và xác định các yếu tố ảnh hưởng năng suất cũng như sự chấp nhận áp dụng của nông dân tại tinh Chiang Mai. Kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí sản xuất khi áp dụng các giống lúa lai cao hon so với giống thường do có sự gia tăng chỉ phí giống, phân bón và lao động.
Nghiên cứu này còn cho thấy có quan hệ chặt chẽ giữa năng suất lúa và các yếu tố chi phí như giống, phân bón, mô hình tưới, lao động; đồng thời, các tác giả cũng đã phát hiện các nguyên nhân dẫn đến quyết định áp dụng các giống lúa mới như: hỗ trợ của nhà nước về giá giống, khuyến nông, tính khang sâu bệnh, ray tốt, tính thích nghi và năng suất cao. Theo Viatte (2012), trong nghiên cứu áp dụng công nghệ do các hệ thống canh tác bền vững: quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), đã chỉ ra trong những năm gần đây nông dân lựa chọn công nghệ, kỹ thuật canh tác mới trong sản xuất nông nghiệp được xác định chủ yếu bởi nhu cầu tăng sản lượng, lợi nhuận và năng suất. Ngoài ra, tác giả đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định áp dụng các công nghệ mới gồm các yếu tố cá nhân, văn hóa, xã hội, yếu tố hành vi tâm lý — xã hội con người (tudi, giới tinh, học vấn, nhận thm ức hiểu biết), các chính sách hỗ trợ phát triển và thé chế như việc phổ biến thông tin thông qua khuyến nông vì khi nông dân được khuyến khích áp dụng công nghệ phù hợp cho các hệ thống canh tác nếu việc phổ biến thông tin là hiệu quả, lợi nhuận là một mối quan tâm lớn của nông dân. Quá trình áp dụng công nghệ mới bao gồm năm giai đoạn: nhận thức; nhận biết thêm thông tin, kiến thức; đánh giá; thử nghiệm và ứng dụng.
Mariano và cộng sự (2012), diện tích canh tác càng lớn thì cảng tạo động lực cho nông hộ ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Các hộ có vay vốn dé sản xuất có khả năng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cao hơn hộ không vay vốn. Kinh nghiệm canh tác của chủ hộ có ảnh hưởng tích cực đến việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Quy mô hộ gia đình có liên quan nghịch với việc áp dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp.
Nông hộ thuận lợi trong khoảng cách thủy lợi có xu hướng ứng dụng công nghệ trong sản xuất hơn. Nghiên cứu của Ali và Kumar (2011) với mục tiêu phân tích vai trò của việc sử dụng sáng kiến e-Choupal nhằm cung cấp thông tin thông qua công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong việc nâng cao khả năng ra quyết định của nông dân Ấn Độ, đã thực hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi từ 303 nông dân thuộc 5 huyện của Uttar Pradesh ở Ấn Độ trong đó bao gồm 152 nông dân sử dụng e-Choupal và 151 nông dân không sử dụng. Việc sử dụng kỹ thuật phân tích phương sai (ANOVA) đã chỉ ra kết quả rằng việc cung cấp thông tin và kiến thức thông qua công nghệ thông tin — truyền thông nói chung có khả năng cải thiện quá trình ra quyết định của cộng đồng nông dân. Sự sẵn có của thông tin và kiến thức được cải thiện được kỳ vọng sẽ giúp nông dân đưa ra quyết định tốt hơn, sẽ dẫn đến tăng sản lượng và thu nhập cao hơn cho người nông dân.
Nghiên cứu cũng cho thay các yếu tố như trình độ học van, thành phan xã hội, thu nhập và quy mô đất dai là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp của nông dân. Godoy và cộng sự (1998) thực hiện khảo sát với 102 hộ gia đình người Mojeno và 62 hộ người Yuracare ở khu vực Beni trong rừng nhiệt đới Bolivia dé đo lường tác động của các yếu tố hộ gia đình, làng xã, dân tộc và thị trường đến việc áp dụng các công nghệ nông nghiệp hiện đại, cụ thể là việc sử dụng thuốc diét cỏ hóa học và thuốc diệt côn trùng trong trồng trọt với các giả thuyết được đưa ra: (1) yếu tố làng xã sẽ quan trọng hơn đối với các hộ gia đình có liên kết yếu với thị trường, (2) giáo dục và thu nhập sẽ quan trọng hơn ở các hộ gia đình gia nhập thị trường và (3) yếu tố dân tộc sẽ không quan trọng vì giả thuyết giả định rằng tất cả các nền văn hóa đều thành thạo như nhau trong việc xử lý thông tin về các đối mới công nghệ. Bằng mô hình probit với sai số chuẩn Huber, nghiên cứu đã đưa ra kết quả không xác nhận bất kỳ giả thuyết nào. Biến yếu tố làng xã có ý nghĩa thống kê ở tất cả các cấp độ hội nhập với thị trường của hộ gia đình.
Trái ngược với lý thuyết vốn con người, giáo dục và thu nhập đóng một vai trò quan nôi bật hon trong các làng tương đối tự trị. Yếu tố dân tộc có ý nghĩa thống kê trong mẫu tông hợp và ở mức độ tích hợp khác nhau. Tống quan tài liệu trong nước: Dé ước lượng các nhân tổ tác động đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phê vùng Tây Nguyên, Bùi Đức Hùng và cộng sự (2021) sử dụng mô hình nhị phân Logistic để xác định các nhân tố tác động đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phê vùng Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có bốn nhân tố tác động quan trọng đến quyết định ứng dung công nghệ cao trong sản xuất cà phê, gồm: độ tuổi, trình độ học van, số năm kinh nghiệm của hộ gia đình và thé chế (gồm khả năng tiếp cận thông tin, dich vụ mở rộng và tin dụng).
Trong đó, nhân tố thể chế ảnh hưởng rõ nét nhất đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phế. Theo nghiên cứu, độ tuổi lao động cao đồng nghĩa việc khả năng nhân thức, đánh giá về hiệu quả công nghệ mới cao hơn, tuy nhiên việc độ tuổi cao phải gắn với việc tích lũy kinh nghiệm trong sản xuất, nhận thấy rõ được lợi ích công nghệ mang lại, có như vậy thì người nông dân mới mạnh dạn ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất. Trình độ học vấn người nông dân càng cao sẽ tăng khả năng tiếp cận và sử dụng các thông tin liên quan đến việc ứng dụng công nghệ mới, ảnh hưởng đến thái độ và cách suy nghĩ của người nông dân mở rộng hơn và có khả năng phân tích về lợi ích của công nghệ mới chính xác hơn, từ đó đưa ra quyết định ứng dụng. Khi độ tuôi cao đồng nghĩa với số năm kinh nghiệm trong sản xuất cà phê tăng lên, việc nhận thức và đánh giá được hiệu quả khi ứng dụng công nghệ mang lại, từ đó ra quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất.
Với khả năng tiếp cận thể chế như tiếp cận thông tin, dịch vụ trong sản xuất cà phê của nông hộ ở mức độ cao thì quyết định ứng dụng công nghệ càng cao, đây là nhân tố rat quan trong trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao vùng Tây nguyên nói riêng và cả nước nói chung, kết quả nghiên cứu cho thay nhân tố này tác động lớn đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phê của các nông hộ vùng Tây Nguyên. Nghiên cứu của Nguyễn Lý Bằng (2020) về các yếu tô ảnh hưởng đến việc áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm (AWD) trong sản xuất lúa tại huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố năng suất, mức độ truyền dat dé hiểu của cán bộ khuyến nông, có tác động mạnh đến quyết định áp dụng mô hình của nông hộ. Ngoài ra các yêu tố điện tích, độ tuổi cũng có ảnh hưởng đến quyết định của nông hộ nhưng ảnh hưởng không lớn. Tuy nhiên các yếu tổ này dé bị tác động do có thé bị thay đổi theo thời gian, nên có thé cân nhắc trong khuyến khích mở rộng mô hình tưới tiết kiệm nước.
Đỗ Cát Lơ (2018), khi phân tích hiệu quả tài chính của việc áp dụng kỹ thuật tưới phun tự động trong canh tác lúa trên địa ban thị xã Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng.