CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu trong nước liên quan đến về HTKSNB trong lĩnh vực thuế thu nhập đã được công bố thông qua các tạp chí, các đề tài nghiên cứu khoa học. Trong đó, bao gồm: Theo tác giả Nguyễn Việt Tường (2013), “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác chống thất thu thuế tại Chi cục Thuế quận Tân Bình”. Luận văn đã giới thiệu và hệ thống hóa lý luận về KSNB trong khu vực công, đồng thời đánh giá thực trạng KSNB trong công tác chống thất thu thuế, tác giả nêu ra những bất cập trong công tác quản lý và đưa ra nhưng giải pháp thực tế, thực tiễn để hoàn thiện KSNB trong công tác chống thất thu thuế tại Chi cục Thuế quận Tân Bình. Hạn chế của bài viết tác giả chưa đánh giá được thất thu thuế do yếu tố khách quan (rủi ro từ bên ngoài) và yếu tố tâm lý người nộp thuế.
Từ đó tác giả xem nhẹ việc thanh tra kiểm tra và quản lý đối tượng nộp thuế. Tác giả Phan Thị Như Lý (2014), trong nghiên cứu về “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát thu thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”, đã tìm ra được các nhân tố tác động đến kiểm soát thuế TNCN đó là các nhân tố về chính sách, cơ chế và quy trình quản lý như: Hệ thống chính sách, pháp luật thuế; tổ chức bộ máy quản lý về thuế; Quy trình quản lý thu nộp thuế; sự phát triển của hệ thống ngân hàng và ứng dụng tin học và mạng trong thanh toán; sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng trong công tác thu thuế; tình hình kinh tế và mức sống người dân; trình độ dân trí và ý thức chấp hành luật thuế của nhân dân; công tác tuyên truyền chính sách thuế thu nhập cá nhân. Tác giả Nguyễn Khắc Tiến (2014) với nghiên cứu “Kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế TNCN tại chi cục thuế Thành phố Biên Hòa, thực trạng và giải pháp”. Luận văn đã đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát rủi ro tại Chi cục thuế Thành phố Biên Hòa và làm rõ nét về tầm quan trọng của việc quản lý thu thuế TNCN trên địa bàn Thành phố Biên Hòa thông qua việc đánh giá thực trạng của hệ thống kiểm 6 soát rủi ro để từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả hệ thống kiểm soát rủi ro tại Chi cục thuế Biên Hòa.
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015) nghiên cứu đề tài “Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng tới hoạt động thu thuế tại Chi cục thuế quận 9”. Đề tài trình bày các khái niệm về KSNB và các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ qua đó làm tiền đề để đánh giá HTKSNB. Các yếu tố của HTKSNB làm cơ sở xây dựng các giả thuyết về sự tương quan giữa các yếu tố của HTKSNB tới hoạt động thu thuế. Dựa trên trên nền tảng của Báo cáo INTOSAI gồm có năm nhân tố là môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát.
Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết: tính hiệu quả của HTKSNB trong hoạt động thu thuế tại Chi cục Thuế quận 9 năm nhân tố tác động: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát. Cụ thể là trong 5 nhân tố này thì nhân tố có sự ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động thu thuế tại Chi cục Thuế Quận 9 là Thông tin và truyền thông (β = 0.724), tiếp đến là nhân tố Giám sát (β = 0.298), hoạt động kiểm soát (β = 0.251), Môi trường kiểm soát (β = 0.202), và cuối cùng là đánh giá rủi ro(β = 0. MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT + ĐÁNH GIÁ RỦI RO + HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT + Thu thuế THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG + GIÁM SÁT + Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015) Đề tài được tác giả thực hiện thông qua khảo sát công chức thuế tại Chi cục thuế Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua các bảng câu hỏi dựa trên thang đo 7 Likert 5 mức độ tập trung vào các yếu tố của HTKSNB ảnh hưởng tới hoạt động thu thuế.
Đánh giá giá trị và độ tin cậy bằng việc ứng dụng hệ số Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, mỗi biến độc lập đều tác động thuận chiều lên biến phụ thuộc, cụ thể các biến môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động giám sát, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông tác động đến hoạt động thu thuế. Do vậy, mô hình của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015) đã xác định biến phụ thuộc là hoạt động thu thuế và các biến độc lập là môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động giám sát, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông (Hình 1. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Vương Thu Thanh (2016) về ”Kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Bình Dương”.
Tác giả đã tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro thông qua hệ thống quản trị rủi ro bao gồm khái niệm về các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát rủi ro gồm tám yếu tố. Nghiên cứu định lượng được sử dụng trên cơ sở phát phiếu điều tra khảo sát để thu thập thông tin, đồng thời thông qua phần mềm thống kê SPSS, sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính nhằm phân tích, đánh giá kết quả thống kê và đối chiếu với kết quả, nhận định, đánh giá của phương pháp định tính nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế. Từ những nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu: Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + β7X7 + β8X8 + α. Trong đó, Biến phụ thuộc: Y: Kiểm soát rủi ro hoạt động thu thuế; biến độc lập: X1: Môi trường quản lý, X2: Thiết lập mục tiêu, X3: Nhận dạng sự tiềm tàng, X4: Đánh giá rủi ro, X5: Phản ứng với rủi ro, X6: Hoạt động kiểm soát, X7: Thông tin và truyền thông, X8: Giám sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả tám nhân tố môi trường quản lý, thiết lập mục tiêu, nhận dạng tiềm tàng (xác định sự kiện), đánh giá rủi ro, phản ứng rủi ro (ứng phó rủi ro), hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát đều có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến hệ thống kiểm soát rủi ro trong công tác thu thuế tại Cục Thuế Bình Dương. Tức là khi môi trường quản lý, thiết lập mục tiêu, xác định sự kiện, đánh giá rủi ro, ứng phó rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát càng cao thì Kiểm soát tủi ro trong công tác thu thuế tại Cục Thuế Bình Dương càng cao. Trong 8 nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát rủi ro hoạt động thu 8 thuế thì nhân tố hoạt động kiểm soát ảnh hưởng mạnh nhất đến kiểm soát rủi ro hoạt động thu thuế với Beta = 0.339; nhân tố ứng phó rủi ro ảnh hưởng mạnh thứ hai với hệ số Beta = 0.195; nhân tố thông tin truyền thông ảnh hưởng mạnh thứ ba với hệ số Beta = 0.19; nhân tố tiếp theo giám sát ảnh hưởng thứ tư với hệ số Beta = 0.189; nhân tố đánh giá rủi ro ảnh hưởng thứ năm với hệ số Beta = 0.159, nhân tố xác định sự kiện ảnh hưởng thứ 6 với hệ số Beta = 0.028, nhân tố thiết lập mục tiêu ảnh hưởng thứ 7 với hệ số Beta = 0.015 và nhân tố môi trường quản lý ảnh hưởng thứ 8 với hệ số Beta = 0. Do vậy, các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu lý thuyết chính thức đều được chấp nhận (Hình 1.
MÔI TRƯỜNG NỘI BỘ + THIẾT LẬP MỤC TIÊU + XÁC ĐỊNH SỰ KIỆN + ĐÁNH GIÁ RỦI RO + Kiểm soát rủi + ro hoạt động ỨNG PHÓ RỦI RO + thu thuế HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT + + THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG GIÁM SÁT Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Vương Thu Thanh (2016) Nguyễn Thị Hà Khương (2018) với đề tài “Phân tích ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đến công tác chống thất thu thuế - trường hợp chi cục thuế quận Bình Thạnh”. Mục đích của nghiên cứu đánh giá các nhân tố của HTKSNB ảnh hưởng đến công tác thu thuế và nghiên cứu này thực hiện việc xác định và đo lường tác động của các thành phần HTKSNB trong công tác chống thất thu thuế - trường hợp Chi cục Thuế quận Bình Thạnh. 9 MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT + ĐÁNH GIÁ RỦI RO + HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT + Chống thất thu thuế + THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG + GIÁM SÁT Hình 1.3 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà Khương (2018) Kết quả nghiên cứu cho thấy 5 thành phần của cấu trúc của HTKSNB gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát có tác động đến công tác chống thất thu tại Chi cục Thuế quận Bình Thạnh. Trong đó, những tồn tại cần khắc phục thuộc về môi trường kiểm soát và đánh giá rủi ro.
Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng thảo luận từ khảo sát 33 chuyên gia là Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng, Đội trưởng, Phó Đội trưởng của các đội thuế thuộc Chi cục Thuế quận Bình Thạnh nhằm xác định các yếu tố của HTKSNB có ảnh hưởng đến công tác chống thất thu thuế. Nghiên cứu định lượng được thực hiện để đo lường tác động của từng nhân tố đối với HTKSNB trong công tác chống thất thu thuế tại Chi cục Thuế quận Bình Thạnh. Do vậy, mô hình của Nguyễn Thị Hà Khương (2018) đã xác định biến phụ thuộc là chống thất thu thuế và các biến độc lập là môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát (Hình 1. Tác giả Nguyễn Văn Phước (2019) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý Thuế tại Chi cục Thuế Quận 11”.
Đề tài này được nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp để hoàn thiện HTKSNB tại Chi cục thuế quận 11. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài này đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về HTKSNB bao gồm KSNB trong các đơn vị khu vực công theo định nghĩa của 10 INTOSAI, đánh giá thực trạng vận dụng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Chi cục Thuế Quận 11.