CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN 1. Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân “Thuế TNCN lần đầu tiên ra đời ở Anh (1841) sau đến Nhật (1887), Mỹ (1913) và Mỹ trở thành quốc gia có tỉ suất thuế TNCN lớn nhất thế giới, chiếm 30 – 60 tổng thu thuế vào ngân sách nhà nước. Trung Quốc, thuế TNCN ra đời từ năm 1914 đến tận năm 1955 mới trở thành một sắc thuế độc lập.
Ở Pháp, thuế TNCN ra đời từ năm 1916, Liên Xô là năm 1922, tính đến nay thế giới có 176 quốc gia áp dụng thuế TNCN. Trước đây, do điều kiện hoàn cảnh của nền kinh tế tập trung, do nguồn thu nhập của dân cư trong xã hội mang tính thuần chất nên Nhà nước không thu thuế đối với thu nhập của cá nhân. Hiện tại, cơ chế quản lý và cơ chế kinh tế đã thay đổi theo hướng nền kinh tế, mức độ phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, nên để thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, ngày 27/12/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Pháp lệnh này được áp dụng trên thực tế kể từ ngày 01/4/1991.
Qua quá trình thực hiện, Quốc hội đã sửa đổi bổ sung nhiều lần vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 2001, 2004” [2, tr12]. Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 của Quốc hội được ban hành và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2009, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này. Từ đó đến nay, Luật thuế TNCN đã nhiều lần thay đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện hơn để phù hợp với thực tiễn. Theo đó, khái niệm thuế TNCN ở Việt Nam cũng dần được bổ sung đầy đủ hơn.
“Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập” [2, tr10] Thuế này đánh vào một số khoản thu nhập cao chính đáng của cá nhân nhằm thực hiện việc điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân Thứ nhất, “Thuế TNCN là một công cụ góp phần tăng nguồn thu, đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách Nhà nước” [8]. Thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động một bộ phận của cải trong xã hội, tạo ra nguồn thu cho NSNN. Mức thu thuế sẽ tỷ lệ thuận với sự phát triển của nền kinh tế và mức sống của người dân trong xã hội, có nghĩa là thu nhập càng cao thì thuế TNCN càng cao.
Ngày nay, sự phát triển của nền kinh tế đã tác động mạnh đến mức thu nhập của người dân, bình quân đầu người ở nước ta ngày càng tăng mạnh theo sự phát triển nói chung của nền kinh tế. Trong khi đó, thu nhập tăng cao sẽ giúp cho mức đóng góp vào NSNN thông qua thuế TNCN. Người lao động trong các doanh nghiệp cần phải công khai, minh bạch để trả cho cá nhân những khoản chi phí mà họ được nhận. Nếu các cơ quan thuế có thể tính và thu đủ thuế TNCN sẽ góp phần ổn định vào NSNN.
Thứ hai, “Thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội” [2, tr13]. Như trên, có thể thấy đây là vai trò quan trọng nhất và có tính chất quyết định đến thuế TNCN. Vì nó có thể điều tiết trực tiếp thu nhập của mỗi cá nhân trong hoạt động lao động sản xuất của mình. Mỗi cá nhân đều lao động và sử dụng một phần tích lũy của mình vào việc đóng góp thuế cho Nhà nước, góp phần ổn định NSNN thông qua việc nộp thuế cho các CQT.
Những người có thu nhập càng cao thì việc đóng thuế càng cao, điều đó thể hiện sự công bằng trong hoạt động xã hội. Thuế TNCN chỉ đánh vào những cá nhân có thu nhập cao, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau. Số đông dân cư có thu nhập thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh 7 nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc một số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Tuy nhiên, thuế TNCN chưa mang lại nguồn thu lớn cho NSNN. Nhìn chung, xem xét trên bình diện tổng thể, công bằng và trên phương diện quản lý bằng nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước thì thuế TNCN đóng một vai trò và có vị trí vô cùng quan trọng. Vì nó điều tiết sự đóng góp của những người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp, điều đó hết sức cần thiết, đảm bảo được sự công bằng xã hội. Thứ ba, “Thuế TNCN là công cụ gắn liền với việc thực hiện chính sách kinh tế, chính sách xã hội của Nhà nước” [2, tr14].
Thuế TNCN không chỉ làm nghĩa vụ thực hiện sự công bằng xã hội, là công cụ huy động của ngân sách mà nó còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đóng vai trò cốt lõi đó là giúp Nhà nước ổn định tình hình kinh tế, điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Thuế TNCN là một trong những loại thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tích lũy của người dân, cũng như góp phần vào ổn định NSNN. Những năm trước đây, thời kỳ kinh tế nước ta chưa phát triển, sự hội nhập kinh tế quốc tế chưa cao, thì vấn đề thuế TNCN chưa thực sự được quan tâm. Song, từ khi nền kinh tế ở Việt Nam phát triển, đời sống của nhân dân được cải thiện dẫn đến việc nộp thuế TNCN vào NSNN.
Thứ tư, “Thuế TNCN góp phần giúp Nhà nước kiểm soát thu nhập, phát hiện thu nhập bất hợp pháp [2, tr15]. Trên thực tế xã hội phát triển ngày nay, nhiều khoản thu nhập của một số người không từ việc làm chính đáng, mà xuất phát từ những hành vi bất hợp pháp, không được luật pháp chấp thuận, họ lợi dụng những sơ hở, kẽ hở của luật pháp để thực hiện các hành vi trái pháp luật, đi ngược lại với những quy tắc, luật định mà nhà nước ban hành, những hành vi đó như: Tham ô, buôn bán hàng cấm, lừa đảo, chiếm đoạt, nhận hối lộ… tất cả những hành vi đó cần được ngăn chặn thông qua thuế TNCN. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân Thứ nhất, là loại thuế đánh lên tất cả các cá nhân trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam có thu nhập chịu thuế. Vì là loại thuế trực thu nên người chịu thuế thường khó có thể chuyển gánh nặng về thuế cho người khác.
Cho nên tâm lý của người chịu thuế thường nặng nề hơn khi thực hiện nghĩa vụ thuế này so với các loại thuế gián thu. Người chi trả thu nhập theo quy định của pháp luật là phải khấu trừ số thuế mà cá nhân có nghĩa vụ nộp cho Nhà nước khi chi trả thu nhập. Vì vậy, đôi khi phải thực hiện tính thuế và quyết toán thuế một tâm lý chung của người chịu thuế TNCN là thường nặng nề, cảm thấy không vui vẻ. Thứ hai, Nhà nước có thể sử dụng loại thuế này để khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi thông qua biểu thuế.
Ví dụ như Nhà nước có thể khuyến khích người lao động làm thêm giờ, tăng thu nhập bằng cách đánh thuế nhẹ hoặc không đánh thuế lên khoản thu nhập tăng thêm do làm thêm giờ hoặc có thể khuyến khích nghỉ ngơi bằng cách đánh thuế nặng lên khoản thu nhập này. Nhà nước cũng có thể khuyến khích người dân đầu tư hay không đầu tư, tiết kiệm hay không tiết kiệm thông qua việc đánh thuế hay không đánh thuế thu nhập đối với thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu nhập từ lãi tiết kiệm. Thứ ba, thuế TNCN là một loại thuế phức tạp. Việc quản lý thuế, thu thuế TNCN đòi hỏi trình độ, kỹ thuật cao, chi phí quản lý thuế lớn.
Cơ quan quản lý thuế phải nắm được các nguồn thu nhập của người chịu thuế, tình trạng cư trú của họ ở Việt Nam…vv [3, tr16]. Thứ tư, thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội, việc nộp thuế là để phục vụ cho NSNN, để đóng góp vào các chính sách an sinh xã hội cũng như vì các mục đích công cộng… Thứ năm, việc đánh thuế TNCN thường được các cơ quan quản lý thuế áp dụng với nguyên tắc lũy tiến từng phần, cũng như sẽ tính thuế theo biểu thuế riêng của từng mức chi trả thuế thu nhập của cá nhân người nộp thuế. Đối tượng và phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân 1. Đối tượng nộp thuế TNCN.
Hiện nay, Luật thuế TNCN tại Việt Nam quy định đối tượng nộp thuế TNCN bao gồm cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập. Vì vậy, cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú được hiểu như sau: - Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: + Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; + Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. - Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện trên. Theo đó, đối tượng nộp thuế TNCN bao gồm: + Công dân mang quốc tịch Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động và học tập ở nước ngoài có thu nhập; + Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư tại Việt Nam vô thời hạn có thu nhập; + Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam kể cả người nước ngoài không sinh sống tại Việt Nam nhưng có thu nhập tại Việt Nam” [3, tr3].
Căn cứ tính thuế TNCN. Căn cứ tính thuế TNCN là thu nhập tính thuế và thuế suất. Phương pháp tính thuế TNCN.