Mở đầu: giới thiệu về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu. Bên cạnh đó, các câu hỏi nghiên cứu và kiểm định giả thuyết đƣợc trình 7 bày. Thêm vào đó, chƣơng này trình bày về phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc thực hiện trong đề tài. Chƣơng 2 – Cơ sở lý thuyết: Chƣơng này trình bày các lý thuyết có liên quan đến tín dụng và khả năng tiếp cận tín dụng.
Bên cạnh đó, chƣơng này trình bày các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nƣớc trƣớc đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó, nghiên cứu rút ra những đánh giá và nhận xét nhằm thừa kế và phát triển dựa trên nền tảng của các nghiên cứu trƣớc. Chƣơng 3 – Phƣơng pháp nghiên cứu: Trình bày khung nghiên cứu, phƣơng pháp phân tích và mô tả phƣơng pháp chọn mẫu khảo sát. Chƣơng 4 – Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Giới thiệu sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu; Phân tích thực trạng hệ thống tín dụng trên địa bàn nghiên cứu; Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức và lƣợng vốn tiếp cận của nông hộ; Thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chƣơng 5 - Kết luận và Hàm ý chính sách: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu chính, những hạn chế của đề tài, đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo; Khuyến nghị một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ tại huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Tóm lại, trong chƣơng 1 đã giới thiệu đƣợc sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể. Trình bày các câu hỏi nghiên cứu nhằm để biết đƣợc cần giải quyết những vấn đề nào, từ đó các giả thuyết nghiên cứu đƣợc đặt ra để kiểm định so với kết quả nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả đã giới thiệu về phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm phạm vi về nội dung nghiên cứu, vùng nghiên cứu, đối tƣợng và thời gian nghiên cứu.
Thêm vào đó, trong chƣơng này đã nêu ra đƣợc ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Đồng thời, chƣơng này trình bày phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng để giải quyết vấn đề nghiên cứu. 8 CHƢƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về tiếp cận tín dụng của nông hộ và tổng quan về một số công trình nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, tổng hợp và đánh giá các nghiên cứu trước đây nhằm rút ra những vấn đề tồn tại, chỉ ra những vấn đề mà luận văn cần tập trung nghiên cứu, giải quyết hay kế thừa để thực hiện nghiên cứu trên địa bàn mới là huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.1 Khái niệm về tín dụng và tín dụng ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lƣợng giá trị sang cho bên kia đƣợc sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận đƣợc phải cam kết hoàn trả theo thời gian đã thỏa thuận.
Theo Hội nghị thƣợng đỉnh toàn cầu về tín dụng vi mô tại Washington tháng 2 năm 1997 thì “Tín dụng vi mô là việc cung cấp các khoản vay quy mô nhỏ đến đối tƣợng ngƣời nghèo với mục đích giúp những ngƣời thụ hƣởng thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh để tạo thuận lợi từ đó nâng cao chất lƣợng đời sống cho cả ngƣời vay vốn và gia đình của họ”. Theo quan điểm của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB): “Tài chính vi mô là việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ tài chính nhƣ tiền gửi, tài khoản tiết kiệm thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho ngƣời nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, cho những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc doanh nghiệp rất nhỏ” Tóm lại tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, bản chất của nó là một quan hệ vay mƣợn dựa trên nguyên tắc hoàn trả (cả vốn và lãi) sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng vốn là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi.2 Phân loại tín dụng 2.1 Theo hình thức Theo hình thức gồm có: Tín dụng chính thức, tín dụng bán chính thức và tín dụng phi chính thức. Tín dụng chính thức: Là khoản tín dụng đƣợc cung cấp bởi các định chế tài chính chính thức. Theo Đinh Phi Hổ (2008) định chế tài chính chính thức là những tổ chức kinh doanh tiền tệ đăng ký hoạt động theo pháp luật của nhà nƣớc, chịu trách nhiệm nộp các khoản thuế theo quy định của nhà nƣớc.
Nhƣ vậy có thể thấy tín dụng chính thức là hình thức tín dụng hợp pháp, đƣợc sự cho phép của Nhà nƣớc. Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động dƣới sự giám sát và chi phối của Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN). Các nghiệp vụ hoạt động phải chịu sự quy định của Luật Ngân hàng nhƣ quy định khung lãi suất, huy động vốn, quy định cho vay,… và những dịch vụ mà chỉ có các tổ chức tài chính chính thức mới cung cấp đƣợc. Các tổ chức tài chính chính thức bao gồm các ngân hàng thƣơng mại, quỹ tín dụng nhân dân, các công ty tài chính.
Tín dụng bán chính thức: Là nơi diễn ra công khai các hoạt động trợ giúp, cung ứng, giao dịch vốn tín dụng của các tổ chức xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên. Các tổ chức xã hội này không phải là chủ thể cung vốn tín dụng mà chỉ là lực lƣợng trợ giúp Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ giải ngân cho các chƣơng trình, dự án chỉ định nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội ở khu vực nông thôn, nhất là đối với những vùng nghèo, xã nghèo. Mọi giao dịch vốn tín dụng của các tổ chức xã hội đều đặt dƣới sự chỉ đạo trực tiếp và giám sát chặt chẽ của chính quyền các cấp. Tín dụng phi chính thức: Theo Frank Ellis (1992) thì “Tín dụng phi chính thức là tín dụng do các tổ chức, cá nhân nằm ngoài các tổ chức chính thức (nhƣ hệ thống các ngân hàng thƣơng mại, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, các cơ quan tài trợ) thực hiện”.
Theo Lâm Trí Dũng (1995), “Thuật ngữ phi chính thức thƣờng đƣợc dùng để chỉ những quan hệ tín dụng ngầm hoặc nửa công khai (nhiều trƣờng hợp là 10 công khai) ở đó có một hoặc một số hoặc tất cả các yếu tố vƣợt ra ngoài khuôn khổ của thể chế pháp lý hiện hành (mà yếu tố cơ bản nhất là lãi suất)”.2 Phân loại theo thời hạn cho vay Theo thời hạn cho vay gồm có: Tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dƣới 12 tháng, đây là loại tín dụng phổ biến trong cho vay nông hộ ở nông thôn, các tổ chức tín dụng cũng thƣờng cho vay loại này tƣơng ứng với nguồn vốn huy động từ các khoản tiền gửi ngắn hạn. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 12 đến 60 tháng, nguồn vốn này thƣờng đƣợc dùng để đầu tƣ cho sản xuất nhƣ mua giống vật nuôi, cây trồng lâu năm hoặc để xây dựng các công trình nhỏ. Loại tín dụng này ít phổ biến hơn so với tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng đƣợc sử dụng để cấp vốn cho nông hộ với mục đích cải tạo và mở rộng sản xuất ở quy mô lớn với kế hoạch sản xuất khả thi. Cho vay theo hình thức này rất ít ở thị trƣờng nông thôn và mang tính rủi ro cao.3 Phân loại theo mức độ tín nhiệm Tín dụng không đảm bảo còn gọi là tín dụng tín chấp, đây là loại tín dụng sử dụng uy tín của ngƣời đi vay hoặc ngƣời đại diện cho ngƣời đi vay đảm bảo bằng thƣơng hiệu hay uy tín của họ về khoản nợ vay. Tín dụng có đảm bảo còn gọi là tín dụng thế chấp, đây là loại hình tín dụng phổ biến và đƣợc các tổ chức tín dụng áp dụng rộng rãi.Theo đó ngƣời đi vay phải đảm bảo trả nợ bằng tài sản của mình hoặc đƣợc ngƣời khác bảo đảm trả nợ thay trong trƣờng hợp không trả nợ đƣợc khoản vay.4 Phân loại theo mục đích vay Tín dụng sản xuất là loại tín dụng đƣợc cấp nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất 11 hàng hóa, bổ sung vốn kịp thời cho quá trình ổn định và phát triển sản xuất. Tín dụng tiêu dùng là loại hình tín dụng nhằm phục vụ nhu cầu chi tiêu, mua sắm hàng hóa của ngƣời đi vay thƣờng là tạm thời và trong thời gian ngắn.
Tín dụng hỗ trợ và ƣu đãi là loại hình tín dụng đƣợc nhà nƣớc hỗ trợ cho những đối tƣợng đặc biệt hay ƣu đãi cho những đối tƣợng thuộc diện ƣu tiên để làm kinh tế, vƣợt qua khó khăn. Đặc điểm của loại hình này thƣờng là lãi suất thấp và chỉ áp dụng cho những đối tƣợng nhất định. Ngoài ra tín dụng còn đƣợc phân loại theo phƣơng pháp hoàn trả bao gồm tín dụng hoàn trả một lần hay tín dụng hoàn trả nhiều lần.3 Các lý thuyết về tiếp cận tín dụng Khả năng tiếp cận tín dụng là xác suất mà ngƣời vay có khả năng nhận đƣợc hoặc không nhận đƣợc các khoản tiền vay tín dụng.Tiếp cận tín dụng có nghĩa là mức độ tín dụng mà ngƣời vay có thể nhận đƣợc. Mô hình tiếp cận tín dụng bắt đầu với lý thuyết nhu cầu tín dụng trong đó cá nhân hoặc một hộ gia đình muốn tối đa hóa lợi ích từ số tiền.
Tất cả các đơn vị tiền có chi phí cơ hội đó là lãi suất và do đó quyết định để vay tiền xuất phát từ một sự lựa chọn có cân nhắc. Tuy nhiên, việc cung cấp tín dụng không chỉ dựa trên giá thị trƣờng hoặc lãi suất cho vay. Do thông tin bất đối xứng, Stiglitz và Weiss (1981) chỉ ra rằng lý thuyết cung cầu tín dụng không thể giải thích đƣợc thị trƣờng tín dụng, đặc biệt là thị trƣờng tín dụng nông thôn. Bởi vì, các tổ chức tín dụng thiếu thông tin về khách hàng và rủi ro của khoản vay nhƣng các tổ chức tín dụng này lại không thể tăng lãi suất để xác định mức cân bằng cho thị trƣờng tín dụng.
Vì vậy, các tổ chức tín dụng có xu hƣớng sàng lọc tín dụng.