chương 1, khóa luận sẽ trình bày phần kết cấu chung của khóa luận. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Lý thuyết về khả năng thanh khoản 2. Khái niệm Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) đã định nghĩa rằng “Thanh khoản là khả năng ngân hàng tài trợ cho việc gia tăng tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ khi đến hạn mà không phát sinh những tổn thất không thể chấp nhận được”.
Theo Duttweiler (2011), “Tính thanh khoản thể hiện khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đấy đủ và bằng loại tiền tệ được yêu cầu. Vì nó được thực hiện bằng tiền mặt nên tính thanh khoản chỉ liên quan đến dòng tiền. Nếu việc thanh toán không hoạt động sẽ dẫn đến tình trạng mất thanh khoản”. Theo Ali & Jameel (2019), “Tính thanh khoản của ngân hàng thương mại thể hiện khả năng tài trợ cho các nghĩa vụ của nhà thầu tại thời điểm đáo hạn, bao gồm cam kết cho vay và đầu tư, rút tiền, gửi tiền và các khoản nợ phải trả tích luỹ”.
Theo Adebayo & cộng sự (2011) cho rằng “Tính thanh khoản có thể được định nghĩa là thước đo lượng tài sản tương đối bằng tiền mặt hoặc có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt mà không bị tổn thất về giá trị sẵn có để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn”. Dựa vào các định nghĩa khác nhau được tổng hợp ở trên, khóa luận đưa ra định nghĩa về thanh khoản như sau: Khả năng thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản thành tiền mặt một cách dễ dàng và nhanh chóng mà vẫn bảo toàn được giá trị vốn có của chúng với một chi phí phù hợp nhất. Có thể nói, thanh khoản thể hiện khả năng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng khi đến hạn. Đo lường Hiện nay, để đo lường khả năng thanh khoản của một ngân hàng có rất nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm: 9 • Đo lường thanh khoản bằng khe hở thanh khoản Khe hở tài trợ = Tổng dư nợ tín dụng trung bình - Tổng nguồn vốn huy động trung bình Khe hở tài trợ được đo lường bằng trung bình cộng của tổng dư nợ cho vay trừ cho trung bình cộng của tổng nguồn vốn huy động.
Chỉ số đo lường này được xem như là một dấu hiệu để cảnh báo cho ngân hàng biết về rủi ro thanh khoản trong tương lai. Khi một ngân hàng có khe hở tài trợ lớn sẽ dẫn đến sự sụt giảm dự trữ thanh khoản và rủi ro sẽ tăng lên (Đặng Văn Dân, 2015). • Đo lường thanh khoản bằng phương pháp hệ số Một số nghiên cứu của Vũ Thị Hồng (2015), Aspachs & cộng sự (2005) và Vodová (2011) đã chú trọng vào 4 chỉ số đo lường thanh khoản sau: Tài sản thanh khoản L1 = Tổng tài sản Tỷ lệ thanh khoản L1 phản ánh khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán của ngân hàng trong trường hợp xảy ra sốc thanh khoản. Tỷ lệ L1 càng cao cho thấy ngân hàng càng có khả năng chống chịu tốt trước những rủi ro về thanh khoản, đảm bảo được sự an toàn cho các hoạt động của ngân hàng.
Tuy nhiên, tỷ lệ L1 này sẽ không đạt hiệu quả nếu ở mức quá cao vì việc dự trữ các danh mục tài sản thanh khoản càng nhiều thì lợi nhuận của ngân hàng sẽ càng thấp và ngược lại. Tài sản thanh khoản L2 = (Tiền gửi+ Vốn huy động ngắn hạn) Tỷ lệ thanh khoản L2 chủ yếu tập trung vào độ nhạy cảm của ngân hàng đối với các loại nguồn vốn đầu vào được huy động bao gồm tiền gửi của các doanh nghiệp, hộ gia đình và các tổ chức tài chính. Tỷ lệ này cũng tương tự như L1, tỷ lệ càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng cao và ngược lại. Khoản cho vay L3 = Tổng tài sản 10 Tỷ lệ thanh khoản L3 chủ yếu cho thấy rằng các khoản cho vay có thanh khoản kém chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng tài sản của ngân hàng.
Vì vậy, tỷ lệ này càng cao thì tính thanh khoản của ngân hàng càng thấp và ngược lại. Khoản cho vay L4 = (Tiền gửi+ Vốn huy động ngắn hạn) Tỷ lệ thanh khoản L4 chủ yếu tập trung đến các loại tài sản và các khoản vay có thanh khoản kém. Tỷ lệ này cũng giống với L3, tức tỷ lệ L4 này càng cao thì tính hanh khoản của ngân hàng càng thấp và ngược lại. Lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam 2.
Lý thuyết Khả năng thay đổi Lý thuyết Khả năng thay đổi (The Shiftability Theory) của Moulton (1918) khẳng định “Thanh khoản là khả năng thay đổi”. Lý thuyết này cho rằng các khoản vay là khởi nguồn cho vấn đề thanh khoản của ngân hàng vì khi các khoản cho vay tăng, khả năng thanh khoản của ngân hàng sẽ giảm. Do vậy, các ngân hàng có thể giảm rủi ro thanh khoản bằng cách dự trữ các tài sản có khả năng sinh lời cao và chuyển đổi tốt. Đồng quan điểm này, các nghiên cứu của Luvuno (2018) và Lê Hoàng Vinh & Trần Phi Dũng (2020) cũng chứng minh được sự tác động của tăng trưởng tín dụng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng là ngược chiều.
Lý thuyết Trật tự phân hạng Lý thuyết Trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) của Meyers & Majluf (1984) lại cho thấy rằng khi lựa chọn nguồn vốn cho các dự án đầu tư, các nhà quản lý thường ưu tiên theo thứ tự là thu nhập giữ lại, nợ và VCSH. Lý thuyết này cũng cho thấy các NHTM có khả năng sinh lời tốt sẽ ưu tiên lựa chọn giữ lại một phần lợi nhuận có được nhằm gia tăng nguồn VCSH thay vì kêu gọi các nguồn vốn đến từ bên ngoài, điều này sẽ giúp gia tăng khả năng thanh khoản cho các ngân hàng. Tuy nhiên, việc giữ nhiều tài sản có tính thanh khoản cao để phòng ngừa các rủi ro tiềm ẩn sẽ làm cho lợi nhuận của 11 ngân hàng bị suy giảm do chi phí cơ hội tăng. Nghiên cứu của Moussa (2015) và Vũ Cẩm Nhung & cộng sự (2023) đã cung cấp được các bằng chứng về mối tương quan ngược chiều giữa NIM và tính thanh khoản.
Lý thuyết Quá lớn để sụp đổ Lý thuyết Quá lớn để sụp đổ (Too big to fail) của Greg (2009) đề cập đến các tổ chức tài chính và ngân hàng đã mở rộng sang nhiều nền kinh tế khác nhau và sự thất bại của họ sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống tài chính toàn cầu. Bên cạnh đó, lý thuyết này còn thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa quy mô ngân hàng và khả năng chấp nhận rủi ro. Khi một ngân hàng có quy mô càng lớn, các nhà lãnh đạo của ngân hàng càng có xu hướng đầu tư mạnh vào các dự án rủi ro cao nhằm tăng lợi nhuận sẽ dẫn đến việc thanh khoản của ngân hàng bị giảm. Các nghiên cứu của Singh & Sharma (2016), Moussa (2015) và Ahmad & Rasool (2017) cũng ủng hộ quan điểm này và đã chỉ ra được sự tác động của quy mô ngân hàng đến khả năng thanh khoản là ngược chiều.
Lý thuyết Chi phí phá sản kỳ vọng Lý thuyết Chi phí phá sản kỳ vọng (Expected bankruptcy costs) của Berger (1995) giải thích cho mối quan hệ giữa lợi nhuận và thanh khoản của ngân hàng. Lý thuyết này cho rằng các ngân hàng có lợi nhuận thấp thường có xu hướng đẩy mạnh các khoản vay nhằm nâng cao lợi nhuận, tuy nhiên, việc này sẽ làm giảm lượng tài sản thanh khoản có trong các ngân hàng dẫn đến thanh khoản giảm. Trái lại, các ngân hàng có lợi nhuận cao lại ưu tiên việc duy trì ổn định thanh khoản bằng cách dự trữ nhiều danh mục tài sản thanh khoản hơn và hạn chế các khoản vay. Lý thuyết này càng được củng cố hơn bởi nghiên cứu của Moussa (2015) và Vũ Cẩm Nhung & cộng sự (2023) trước đó và cho thấy rằng ROE có ảnh hưởng thuận chiều đến tính thanh khoản của ngân hàng.
Lý thuyết Mong manh - Lấn át tài chính Lý thuyết Mong manh - Lấn át tài chính (Financial Fragility - Crowding Out) của Berger & Bouwan (2008) đề cập đến mối quan hệ giữa vốn và thanh khoản của ngân hàng. Lý thuyết này cho rằng một ngân hàng có được nguồn vốn chủ sở hữu lớn sẽ “lấn 12 át” lượng tiền của khách hàng gửi vào dẫn đến cung thanh khoản giảm nên họ phải đẩy mạnh dự phòng thanh khoản để bảo vệ ngân hàng trước những rủi ro bất ngờ, trái lại, các ngân hàng có nguồn vốn “mong manh” hơn thì họ lại giảm dự trữ thanh khoản. Các nghiên cứu trước đó của Ahmad & Rasool (2017) và Gautam (2016) cũng đã chứng minh được mối tương quan thuận chiều giữa CAP và thanh khoản. Lý thuyết Hiệu ứng Fisher Lý thuyết Hiệu ứng Fisher của Fisher (1930) đề cập đến mối liên hệ giữa lãi suất và lạm phát.
Theo Fisher (1930), lãi suất danh nghĩa được đo lường bằng tổng của lãi suất thực và lạm phát kỳ vọng. Lý thuyết này cho rằng khi tỷ lệ lạm phát gia tăng, giá trị thực của các khoản đầu tư sẽ giảm mặc dù lãi suất của thị trường là không thay đổi. Điều này khiến cho các hoạt động đầu tư và kinh doanh của ngân hàng cũng bị giảm theo do các NHTM cẩn trọng hơn trong việc cho vay và tăng tỷ lệ dự trữ nhiều hơn để duy trì thanh khoản cho ngân hàng. Lý thuyết này cũng được ủng hộ bởi nghiên cứu của Singh & Sharma (2016), Đặng Thị Quỳnh Anh & Trần Lê Mai Anh (2022), Vũ Cẩm Nhung & cộng sự (2023) trước đó và chỉ ra được INF có tác động thuận chiều đến thanh khoản của ngân hàng.
Tổng quan về một số nghiên cứu có liên quan 2. Các nghiên cứu nước ngoài Singh & Sharma (2016) tập trung phân tích các nhân tố tác động đến thanh khoản của các NHTM tại Ấn Độ. Tác giả đã thu thập dữ liệu nghiên cứu của 59 ngân hàng trong khoảng thời gian từ 2000-2013 bằng các mô hình OLS, REM và FEM. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng sự tác động của các nhân tố như DEP, mức độ an toàn vốn, khả năng sinh lời và INF đến thanh khoản là thuận chiều, trái lại, sự tác động của các biến như SIZE và GDP đến thanh khoản lại là ngược chiều.
Còn hai biến chi phí tài trợ và UNEM không ghi nhận được sự tác động trong nghiên cứu này. Moussa (2015) đã tập trung phân tích các nhân tố quyết định đến tính thanh khoản của các NHTM tại Tunisia.