chương 1 sẽ trình bày về đối tượng, phạm vi, phương pháp, nội dung nghiên cứu, những đóng góp mà đề tài mang lại. Cuối cùng, là trình bày về kết cấu của khóa luận bao gồm 05 chương và sơ lược về nội dung chính của mỗi chương. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN 2.
Khái niệm thanh khoản của NHTM Theo NH Thanh toán Quốc tế (BIS, 2008): “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng để tài trợ cho phần tăng tài sản và đáp ứng nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, mà không gây thiệt hại, tổn thất cho NH”. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát NH (Basel Committee on Bank Supervision, 2008): “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức”. Theo NHTM (NXB Thống kê, 2009), dƣới góc độ tài sản: “Thanh khoản là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngƣợc lại”; dƣới góc độ NH: “Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch nhƣ chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác”. Nói tóm lại, tính thanh khoản của các NHTM về cơ bản có nghĩa là khả năng NH thực hiện thanh toán nhanh chóng khi phát sinh nghĩa vụ.
Thanh khoản thể hiện khả năng huy động đủ nguồn vốn trong dài hạn với mức lãi suất hợp lý để đảm bảo thanh khoản dài hạn và hỗ trợ tăng trƣởng giá trị. Vì vậy, các NH cần phải có nguồn tiền thanh khoản để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu về tiền mặt của khách hàng, còn nếu NH không có đủ nguồn để đáp ứng yêu cầu này, NH phải vay từ thị trƣờng liên NH hoặc từ NHTW. Một NH không thể đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng sẽ rất dễ mất khả năng thanh toán và nghiêm trọng nhất là làm mất lòng tin của khách hàng đối với hệ thống NH. Đo lƣờng khả năng thanh khoản của ngân hàng 2.1 Phương pháp đo lường bằng khe hở thanh khoản Là khoản chênh lệch giữa tổng dƣ nợ cho vay bình quân và tổng nguồn vốn huy động bình quân.
Cho thấy dấu hiệu cảnh báo về rủi ro thanh khoản của NH 8 trong tƣơng lai. Phƣơng pháp này đo lƣờng sự chênh lệch giữa nguồn vốn và tài sản ở thời điểm hiện tại và tƣơng lai (Vodová, 2011). Công thức tính: Khe hở tài trợ = Tổng dƣ nợ tín dụng trung bình - Tổng nguồn vốn huy động trung bình (2.1) Nếu chênh lệch này dƣơng và NH bị thâm hụt tài chính lớn, NH phải giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và giảm tài sản lƣu động hoặc vay thêm tiền từ thị trƣờng tiền tệ, điều này dẫn đến rủi ro thanh khoản của NH sẽ tăng đáng kể (Đặng Văn Dân, 2015).2 Phương pháp đo lường bằng tỷ lệ thanh khoản Theo các tác giả, thanh khoản là một chủ đề đặc biệt đáng lo ngại kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Tuy nhiên, thanh khoản NH không hề dễ dàng chịu ảnh hƣởng của các yếu tố bên ngoài nhƣ: thị trƣờng hiệu quả, cơ sở hạ tầng, chi phí giao dịch thấp,… mà quan trọng nhất là chịu sự tác động của các yếu tố bên trong (Aspachs, 2005), (Nikolau, 2009).
Một số nghiên cứu nhƣ Aspachs và cộng sự (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008) đã tập trung vào 4 chỉ số thanh khoản sau: = (2.2) Tài sản thanh khoản bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại NHTW và các NH khác, chứng khoán nợ do chính phủ phát hành và các chứng khoán tƣơng tự… Tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của NH càng tốt. Mặc dù vậy, nếu tỷ lệ này quá cao, các NH phải đánh giá lại các quỹ tài sản của họ bởi vì tài sản thanh khoản cao thƣờng không sinh lời nhiều.3) Tỷ số này thể hiện tài sản thanh khoản so với các khoản tiền gửi và vốn huy động ngắn chiếm bao nhiêu phần trăm. Thế nhƣng, tỷ lệ này là tập trung vào mức độ nhạy cảm của NH trong việc lựa chọn các loại kinh phí (bao gồm tiền gửi của hộ gia đình, công ty và các tổ chức tài chính khác). Tỷ số này tƣơng tự , tức là tỷ số này cao cũng thể hiện thanh khoản tốt của NH.4) Tỷ lệ này cho thấy tỷ lệ phần trăm của các khoản cho vay trên tổng tài sản NH.
Vì vậy, tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của NH càng kém.5) Chỉ số này cũng tƣơng tự nhƣ , nghĩa là nếu càng cao thì khả năng thanh khoản của NH càng thấp. Ở đề tài nghiên cứu này, tác giả đã dùng phƣơng pháp chỉ số thanh khoản để tính toán cụ thể chỉ số để tính khả năng thanh khoản của các NHTM tại VN trong 11 năm 2012 - 2022. Vai trò của tính thanh khoản Giúp doanh nghiệp nắm đƣợc các vấn đề trong tình hình thanh toán của mình. Từ đó, kịp thời xem xét và đƣa ra cách xử lý thích hợp nhất.
Giúp doanh nghiệp phát hiện ra các nguy cơ tiềm ẩn và loại bỏ dứt điểm những rủi ro đó. Đồng thời, đảm bảo tính đúng hạn của các các khoản vay nợ. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG 2. Các yếu tố bên trong ngân hàng TSSL trên VCSH (ROE): ROE đo lƣờng khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông.
Theo lý thuyết của Keynes về ƣa thích thanh khoản (Keynes Liquity Preference Theory), việc NH có nhiều tiền mặt để đảm bảo thanh khoản sẽ mất đi cơ hội đầu tƣ tạo ra lợi nhuận. Thế nhƣng, khi mức lãi suất cho vay tăng lên thì các NH sẽ có xu thế mạo hiểm hơn, giữ ít tiền mặt hơn và sử dụng chúng cho các hoạt động tìm kiếm lợi nhuận. Nhƣ vậy, bất kỳ chủ thể nào cũng phải chấp nhận đánh đổi giữa mục tiêu thanh khoản với mục tiêu lợi nhuận. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019) cho thấy tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) tác động ngƣợc chiều với khả năng thanh khoản.
Trong khi đó Moussa (2015), Choon và cộng sự (2013) cho thấy tác động cùng chiều điều này đƣợc giải thích khi NH hoạt động tốt tạo ra nhiều lợi nhuận, từ đó giúp cho khả năng bù đắp 10 thanh khoản tốt, đồng thời nâng cao sự tín nhiệm của mình trên TTTC và dễ dàng thu hút nguồn vốn huy động. VCSH trên tổng tài sản (CAP): Tỷ lệ giữa VCSH/Tổng tài sản có của NH cho thấy sức mạnh về tài chính của một NH. Khi một NH có tỷ lệ CAP cao so với trung bình của ngành, cho thấy NH đó có năng lực tốt hơn về tài chính trong việc huy động nguồn vốn, cho vay và đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh NH luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, rủi ro khi xảy ra có thể gây những thiệt hại rất lớn cho NH, xấu nhất có thể dẫn đến phá sản.
Khi đó NH sẽ giúp bù đắp các khoản lỗ trên bằng một lƣợng lớn vốn cổ phần. Ngƣợc lại, nếu tỷ số này thấp thì chứng tỏ NH đang áp dụng đòn bẩy tài chính cao, việc này tiềm ẩn nhiều rủi ro khi chi phí sử dụng vốn cao. Nghiên cứu của Ahmad, F. (2017), Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2016) cho thấy tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản có tác động dƣơng với khả năng thanh khoản.
Tuy nhiên, Moussa (2015) và Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019) cho thấy tỷ lệ này có mối tƣơng quan nghịch biến với tính thanh khoản. Hệ số an toàn vốn (CAR): Theo định nghĩa của Basel thì hệ số an toàn vốn đo lƣờng sức mạnh và tiềm lực tài chính của một NH. Một NH có tỷ số CAR càng cao thì năng lực bảo vệ những ngƣời gửi tiền trƣớc rủi ro của NH càng tốt và tính ổn định trong hoạt động cũng sẽ càng tăng. Hay nói cách khác NH tạo ra lớp bảo vệ mình và ngƣời gửi gửi tiền trƣớc những cú sốc tài chính.
Nghiên cứu của Luvuno, T. (2016) cho thấy hệ số an toàn vốn có tƣơng quan đồng biến đến khả năng thanh khoản. Nghiên cứu Choon và cộng sự. (2013) thì tìm thấy hiệu ứng ngƣợc lại.
Mối quan hệ này đƣợc giải thích việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn ở mức quá cao cũng không tốt cho hoạt động NH. Khi tỷ lệ an toàn vốn ở mức cao đồng nghĩa NH phải dự trữ nhiều vốn hơn hoặc đầu tƣ vào các tài khoản có mức rủi ro thấp hơn, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn không cao, lợi nhuận sụt giảm và sẽ tác động ngƣợc lại làm giảm khả năng thanh khoản NH. HQCPHĐ (CEA): đƣợc tính bằng tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản, chi phí hoạt động NH bao gồm chi phí quản lý, chi phí nhân viên, chi phí về tài sản 11 và các hoạt động khác. Khi tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ NH quản lý tốt chi phí hoạt động tạo ra nhiều lợi nhuận và từ đó có khả năng bù đắp thanh khoản tốt.
Nghiên cứu thực nghiệm của Moussa (2015), Lê Hoàng Vinh và Trần Phi Dũng (2020) đã tìm thấy mối quan hệ ngƣợc chiều có ý nghĩa thống kê cao giữa HQCPHĐ và thanh khoản NH. Ngƣợc lại, Al-Homaidi và cộng sự (2019), đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều CEA và khả năng thanh khoản NHTM. Tiền gửi của khách hàng (DEP): Tiền gửi huy động đƣợc coi là nguồn huy động vốn chính cho các NHTM. NH dùng nguồn vốn này vào mục đích cấp tín dụng cho khách hàng, nếu vốn huy động đƣợc càng lớn thì NH sẽ tăng cƣờng các nghiệp vụ cho mục đích sinh lời để bù đắp cho chi phí huy động vốn.
Việc này làm giảm bớt dự trữ thanh khoản và dẫn đến thanh khoản của NH sụt giảm. Lê Hoàng Vinh và Trần Phi Dũng (2020) cũng chỉ ra tiền gửi khách hàng có tác động ngƣợc chiều với khả năng thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại. Một số nghiên cứu thực nghiệm Singh, A. (2016) cho thấy tác động cùng chiều giữa tiền gửi khách hàng và khả năng thanh khoản NHTM.
Việc này có thể giải thích là do khi có nguồn tiền dồi dào từ tiền gửi khách hàng để phục vụ cho nghiệp vụ tín dụng sẽ giúp NH tạo ra nhiều lợi nhuận làm tăng khả năng thanh khoản. Bên cạnh đó, tiền gửi huy động còn hỗ trợ NH đáp ứng khả năng thanh khoản trong ngắn hạn đối với khách hàng. Vì vậy, tính thanh khoản của NH sẽ đƣợc đảm bảo.