Chương I — Giới thiệu: Chương này giới thiệu những nét chính về công trình nghiên cứu bao gồm: Cơ sở hình thành luận văn, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết câu luận văn. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan: Chương này trình bày VỀ CƠ SỞ lý luận và lược khảo các dé tai nghiên cứu trước đây. Đầu tiên, sẽ tìm hiểu về RRTD, phân loại nợ và trích lập dự phòng RRTD và các nhân tố tác động đến dự phòng RRTD. Kế đến tác giả cũng đề cập đến lý thuyết về quản trị lợi nhuận và việc sử dụng dự phòng RRTD để quản trị lợi nhuận.
Sau cùng, chương này cũng sẽ tổng kết lại các nghiên cứu trước đây về dự phòng RRTD và quản trị lợi nhuận bằng dự phòng RRTD đề làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình cho chương sau. Chương 3 — Phương pháp nghiên cứu: Trên cở sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trước, chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn đữ liệu cho mô hình nghiên cứu. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Chương này sẽ đưa ra mô hình hồi quy phù hợp thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố tài chính và dự phòng RRTD. Với chương này, chúng ta sẽ biết được các nhân tổ tài chính nào có mối quan hệ như thế nào với dự phòng RRTD và mức độ tác động của từng nhân tổ ra sao.
Cùng với đó, chương này cũng đưa ra bằng chứng về việc các NHTM Việt Nam sử dụng dự phòng RRTD đề quản trị lợi nhuận như thế nào. Với những mục đích trên, chương này sẽ gồm các nội dung sau: thống kê mô tả các biến, phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình, kết quả ước lượng mô hình, kiểm định các khuyết tật và sự phù hợp của mô hình để đưa ra mô hình tối ưu, phân tích mức độ tác động của các nhân tố đến dự phòng RRTD. Chương 5 — Kết luận và khuyến nghị: Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra kết luận về bài nghiên cứu. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những khuyến nghị với các nhà quản trị ngân hàng trong việc sử dụng các nhân tố tài chính dé quản lý dự phòng RRTD nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Ngoài ra, chương này cũng đưa ra những gợi ý cho nhà đầu tư khi xem xét các thông tin tài chính của ngân hàng để có cái nhìn chính xác hơn về tình hình ngân hàng và cơ quan quản lý để có biện pháp kiểm soát vấn đề trích lập dự phòng RRTD nhằm nâng cao chất lượng thông tin mà các ngân hàng công bố ra. TOM TAT CHUONG 1 Phần này giới thiệu ngắn gọn về công trình nghiên cứu. Tác giả đã đưa ra lý do tại sao chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, nội dung và ý nghĩa của đề tài. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu với phương pháp nghiên cứu định lượng cho dữ liệu bảng được thu thập tại các NHTM giai đoạn từ 2011 — 2020.
Tác giả mong muốn bài nghiên cứu sẽ góp phần hệ thống lại các cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa các nhân tổ tài chính đến dự phòng rủi ro tín dụng. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra các bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ các yếu tổ ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng đề làm căn cứ đưa ra các khuyến nghị hiệu quả cho các nhà quản trị ngân hàng cũng như cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng. CO SO LY THUYET VÀ LƯỢC KHẢO CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến dự phòng rủi ro tín dụng. Các yếu tố có tác động đến dự phòng rủi ro tín đụng của ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó hình thành các giả thuyết nghiên cứu.
Các khái niệm liên quan 2. Rui ro tín dụng và các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng Theo khoản 1, điều 3 thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN: “Rui ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo khoản 24, điều 2 thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Theo hiệp ước Basel II và thông lệ quốc tế, rủi ro tín dụng là khả năng bên vay hoặc đối tác của ngân hàng không thực hiện được các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng.
Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác nhau như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Như vậy, có thể hiểu rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả được nợ gây ra những tốn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Theo Ghosh (2012), “có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, bao gồm nguyên nhân bên ngoài và bên trong ngân hàng. Các nguyên nhân phổ biến từ phía NHTM có thể kế đến như: quyết định tín dụng quá dễ dàng, quản trị tín dụng kém hiệu quả, những sự kiện bất ngờ không lường trước được và sự ngoan cố không trả nợ xuất phát từ phía khách hàng.
Các yếu tố bên ngoài bắt nguồn từ sự suy yếu của kinh tế vĩ mô, tình trạng xấu đi của các điều kiện kinh tế và sự phát triển kém của thị trường bên ngoài. Mối quan hệ nghịch chiều từ điều kiện kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến người đi vay, khi nó làm suy giảm nguồn thu nhập và tăng khả năng không trả được nợ của họ. Các yếu tố bên ngoài như sự thay đổi của chính sách tài khóa, cung tiền, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách hạn chế thương mại hoặc sự biến đổi của thị trường tài chính cũng sẽ ảnh hưởng đến danh mục tín dụng của ngân hàng”. Các chỉ tiêu để đo lường rủi ro tín dụng (RRTD) là: Tý lệ nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Dư nợ tín dụng Đây là “chỉ tiêu quan trọng đề đo lường RRTD của NHTM.
Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì RRTD càng lớn. Nguy cơ khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng rất lớn, ngân hàng có thê mất vốn, suy giảm đoanh thu và lợi nhuận” (Ghosh, 2012). Ở đây chúng ta cần phân biệt rõ rủi ro tín dụng và tốn thất do rủi ro tín dụng gây ra. Như định nghĩa ở trên, rủi ro tín dụng chỉ phản ánh khả năng có thể xảy ra, nó mang tính chất tiềm ấn.
Còn khi rủi ro tín dụng đã xảy ra, nghĩa là khách hàng đã không thực hiện đúng cam kết với ngân hàng, gây ra những tốn thất cho ngân hàng thì đó là tốn thất do rủi ro tín dụng gây ra. Như vậy có thê thấy một khoản cho vay của ngân hàng tuy chưa quá hạn nhưng nó vẫn tiềm ấn rủi ro tín dụng. Trong đó, tiềm ân khả năng xảy ra ton thất cho ngân hàng nếu những kỳ trả nợ sau đó khách hàng vay của ngân hàng không thé thực hiện cam kết hoàn trả vốn vay như đã ký trong hợp đồng tín dụng. Tương tự như vậy thì một ngân hàng tuy tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng không thể loại trừ rủi ro tín dụng cao.
Điều này cho thấy, rủi ro tín dụng mang tính tất yếu và nó gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Các yếu tổ tác động đến rủi ro tín dụng ngân hàng: Quy mô ngân hàng: Quy mô là giá trị thị trường của ngân hàng, các nghiên cứu thường đo bằng logarit của tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đề điều chỉnh biến này về giá trị tương đồng với các biến khác trong mô hình. Quy mô ngân hàng có thể tác động lên nợ xấu theo cả chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Những ngân hàng lớn có thé quan lý nợ xấu hiệu quả hơn nhờ khả năng đa dạng hóa danh mục cho vay và kha năng quản trị RRTD vượt trội so với ngân hàng nhỏ (Das & Saibal, 2007).
Tuy nhiên, những ngân hàng lớn cũng có thê sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao do kỳ vọng được chính phủ bảo vệ nếu có nguy hiểm xảy ra, dẫn đến tỷ lệ nợ xâ u có thể cao hơn (Nguyễn Thùy Dương & Trần Thị Thu Hương, 2017). Lợi nhuận của ngân hàng: Để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng, các nghiên cứu thường sử dụng ROA (Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản) hoặc ROE (Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu), ngụ ý về mức độ quản lý hiệu quả trong việc sử dụng tài sản và vốn chủ sở hữu đề tạo ra thu nhập. Nhiều nghiên cứu chứng minh mối quan hệ ngược chiều giữa khả năng sinh lời và nơ xấu. Dimitrios va` cộng sự (2010) cho rằng quản lý kém liên quan đến các kỹ năng kém trong chấm điểm tín dụng, thắm định tài sản bảo đảm và cam kết giám sát khách hàng vay nợ.
Trong khi đó, Zribi và cộng sự (2011) cho rằng, một ngân hàng có khả năng sinh lời cao có ít động lực tạo thu nhập hơn, do đó, ít bị rằng buộc hơn khi tham gia vào các hoạt động cho vay có Tui ro. Cơ cấu vốn: Các nghiên cứu trước đây thường sử dụng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là biến đại diện cho mức độ vốn hóa. Delis, Tran và Staikouras (2011) cho rằng tỷ lệ đòn bây tài chính cao hơn, do các yêu cầu về vốn khắt khe hơn, ngụ ý rằng ngân hàng thận trọng hơn trong hành vi cho vay. Ngươc lại, tỷ lệ đòn bây tài chính thấp dẫn đến gia tăng các khoản nợ xấu, do nhà quản lý ngân hàng dễ đàng khuyến khích rủi ro đạo đức, tăng danh mục cho vay trong khi ngân hàng chưa đủ vôn hóa.