Chương 1 của luận văn đã nêu ra được lý do lựa chọn đề tài , đồng thời đưa ra một cách hết sức cụ thể các mục tiêu nghiên cứu là gì, đề tài cần tập trung nghiên cứu những đối tượng nào, trong phạm vi nào, phương pháp ra sao? Tất cả những phần nêu trên đều nhằm giúp tác giả đánh giá và đưa ra được những kiến nghị có ý nghĩa cho ban lãnh đạo của BIDV Hóc Môn trong quá trình làm việc, giúp BIDV Hóc Môn ngày càng cải thiện CLDV, ngày càng chiếm được niềm tin và sự trung thành của KH. Và để đạt được kết quả như trên thì công việc thực tế cần thực hiện chính là dựa vào kết quả khảo sát ý kiến của KH trực tiếp đến giao dịch cũng như các số liệu hiện đang được ghi nhận và lưu trữ tại BIDV Hóc Môn. 5 CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CLDV KH CÁ NHÂN 2. Cơ sở lý thuyết về CLDV KH cá nhân 2.
Dịch vụ Các tác giả nổi tiếng thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ như Adam Smith, Các- Mác, Philip Kotler… tuy nhiên tóm gọn lại tất cả các khái niệm trên thì dịch vụ chính là một loại sản phẩm đặc biệt, là kết quả của quá trình lao động xã hội nhưng sản phẩm tạo ra không phải là vật thể hiện hữu, không cần chuyển đổi quyền sở hữu nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu sử dụng của con người trong đời sống cũng như sinh hoạt. Dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng dịch vụ đều có chung các đặc điểm đó là: Tính vô hình, Tính không đồng nhất, Tính không thể cất trữ ,Tính không thể tách rời. Đối với tất cả các loại hình và nghành nghề kinh doanh hiện nay, dịch vụ KH đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Các doanh nghiệp liên tục phải đối mặt với sự sụt giảm doanh thu và mất đi các KH vào tay đối thủ, nguyên nhân chủ yếu là do đâu, ngoài giá cả chênh lệch thì lí do chính yếu là vì dịch vụ cung cấp cho KH chưa thực sự thõa mãn được sự mong đợi của họ.
Các doanh nghiệp dù đã có kinh nghiệm dày dạn trên thị trường, có được những sản phẩm hàng hóa có thâm niên nhưng nếu không chú trọng đầu tư vào dịch vụ KH, hỗ trợ tốt nhất cho KH thì việc KH quay lưng tìm đến đối thủ là điều tất yếu sẽ xảy ra. Một doanh nghiệp có lượng KH trung thành càng lớn thì càng cắt giảm được chi phí cho hoạt động marketing, đó là sức mạnh của truyền miệng, khi KH thật sự hài lòng với dịch vụ mà bạn cung cấp thì họ sẽ giới thiệu cho càng nhiều người biết để cùng trải nghiệm.2 Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ KH cá nhân Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán… mà ngân hàng cung cấp cho KH đáp ứng các nhu cầu kinh doanh, sinh hoạt và từ đó ngân hàng thu được lợi nhuận. 6 Dịch vụ KHCN chính là tất cả các dịch vụ NH cung cấp cho đối tượng là KH cá nhân, KH có thể trực tiếp sử dụng dịch vụ thông qua mạng lưới điểm giao dịch của hệ thống ngân hàng, thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông… Dịch vụ KHCN bao gồm các dịch vụ như: cho vay trả góp, cho vay thế chấp, tín chấp; dịch vụ thanh toán; dịch vụ nhận tiền gửi; dịch vụ thẻ; dịch vụ Ngân hàng điện tử… Ngân hàng là ngành nghề cung ứng dịch vụ tài chính cho KH, do đó yếu tố dịch vụ KH mang tính sống còn. Hiện nay hầu hết các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đều có tính tương đồng, thì chiến lược cạnh tranh tốt nhất mà các ngân hàng hướng đến chính là cải thiện dịch vụ KH một cách tốt nhất.
Nếu CLDV mà ngân hàng cung cấp chưa thực sự tốt, chưa đáp ứng được nhu cầu cũng như sự kì vọng của KH, hiển nhiên KH sẽ không tiếp tục quay lại ngân hàng một lần nữa và ngân hàng sẽ mất đi một KH. Ngược lại, khi KH sử dụng và cảm thấy hài lòng với CLDV mà ngân hàng cung cấp, sẽ tiếp tục quay lại và trở thành KH trung thành mang đến lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra KH sẽ tuyên truyền ưu điểm đến một nhóm người khác, qua đó tạo ra được một lượng KH mới cho ngân hàng. Nâng cao được hình ảnh, uy tín, độ tin cậy cho ngân hàng đó, giảm bớt chi phí quảng cáo.
CLDV KH cá nhân 2. Khái niệm CLDV KH cá nhân Theo Parasuraman & ctg (1985, 1988) cho rằng CLDV là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Còn Edvardsson, Thomsson & Ovretveit (1994) cho rằng CLDV là “dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của KH và làm thoả mãn nhu cầu của họ”. Tóm lại CLDV KH cũng như CLDV KH cá nhân chính là việc các ngân hàng đáp ứng được như thế nào nhu cầu cũng như kỳ vọng của từng KH cá nhân đối với các dịch vụ mà NH cung cấp.
Chính vì vậy CLDV phụ thuộc rất lớn vào cảm nhận và sự hài lòng của KH, mỗi KH sẽ có cảm nhận về mỗi dịch vụ khác nhau, nên chất lượng cũng sẽ khác nhau. Từ đó ta thấy rằng, việc định nghĩa CLDV vô cùng quan trọng trong việc phát huy được thế mạnh của NH một cách tốt nhất.2 Các đặc tính của CLDV KH cá nhân Tính vượt trội: Đối với KH cá nhân, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện được tính vượt trội của mình so với những sản phẩm khác. NH nào cung cấp được các SPDV có nhiều điểm vượt trội hơn mặc nhiên sẽ có nhiều lợi thế hơn trong cạnh tranh. Tuy nhiên đặc điểm này lại phụ thuộc vào sự đánh giá chủ quan của từng KH sử dụng dịch vụ.
Tính đặc trưng của sản phẩm: là tổng thể những mặt cốt lõi nhất và tinh túy nhất (units of goodness) kết tinh trong sản phẩm, dịch vụ. Dịch vụ nào càng có chất lượng cao thì càng có nhiều đặc trung nổi bật, là điều kiện để giúp KH cảm nhận sự khác biệt khi sử dụng DV tương ứng của các đối thủ khác trong thị trường. Tính cung ứng: CLDV KH cá nhân gắn liền với quá trình cung cấp dịch vụ đến KH. Đây là đặc điểm phụ thuộc vào cách thức tổ chức triển khai sản phẩm dịch vụ đến KH từ thái độ đến phong cách phục vụ KH, nhà cung cấp muốn nâng cao CLDV thì cần phải hết sức chú ý đến việc cải thiện đặc điểm này.
Tính thỏa mãn nhu cầu: CLDV KH cá nhân được tạo ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu KH và lấy sự hài lòng của của KH làm căn cứ để cải thiện CLDV. KH chỉ tiếp tục sử dụng dịch vụ khi nhu cầu của họ được thõa mãn, đây là đặc điểm phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài do KH cảm nhận tốt hay xấu. Tính tạo ra giá trị: CLDV được tạo ra nhằm phục vụ KH cá nhân. Dịch vụ không tạo ra giá trị nào đối với KH thì coi như là không có chất lượng.
KH sử dụng SPDV và cảm nhận những giá trị mà DN tạo ra, do đó chính KH sẽ đánh giá những giá trị đó là tốt hay xấu, có chất lượng hay không có tác dụng gì đối với nhu cầu của KH. Do đó, tính tạo ra giá trị là đặc điểm cơ bản và là nền tảng cho việc xây dựng và phát triển CLDV của doanh nghiệp. Các mô hình nghiên cứu CLDV 2. Mô hình SERVQUAL Mô hình SERVQUAL (Parasuraman, 1988) là mô hình được tác giả xây dựng dựa trên sự khác biệt giữa kỳ vọng của KH về một dịch vụ và cảm nhận thực tế của 8 KH sau khi đã trực tiếp sử dụng dịch vụ đó.
Các nhà nghiên cứu này đã đưa ra mô hình năm khoảng cách CLDV, bao gồm: Khoảng cách 1 (KC1) là khác biệt giữa kỳ vọng của KH về dịch vụ và việc nhà cung cấp xác định kỳ vọng tương ứng của KH. Nguyên nhân tạo ra khác biệt này chính là khi nhà cung cấp cố gắng diễn giải sự kỳ vọng của KH khi chưa thu thập đầy đủ nhu cầu, đặc trưng của KH cũng như đặc trưng của CLDV mà mình cung cấp. Khoảng cách 2 (KC2) xuất hiện khi các nhà cung cấp dịch gặp trở ngại trong việc chuyển đổi các kỳ vọng của KH thành các đặc tính cụ thể của dịch vụ và tiếp tục được cung cấp đến KH có nhu cầu. Khoảng cách 3 (KC3) là khi các tiêu chí chất lượng đã định không được nhân viên chuyển giao một cách chính xác cho KH.
Lúc này việc tạo ra CLDV phụ thuộc rất lớn vào nhân viên trực tiếp giao dịch. Khoảng cách 4 (KC4) là khác biệt giữa các dịch vụ được chuyển giao tới KH và những thông tin được cảm nhận bởi KH. Nếu cảm nhận của KH không đúng với cam kết có thể làm giảm CLDV, hoặc ngược lại. Khoảng cách 5 (KC5) hình thành từ sự khác biệt giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng kỳ vọng khi KH sử dụng dịch vụ.
Parasuraman & ctg (1985) cho rằng CLDV chính là khoảng cách thứ 5 và phụ thuộc vào khoảng cách còn lại. Do đó làm tăng CLDV chính là nỗ lực rút ngắn khoảng cách từ 1 đến 4. Theo mô hình này, CLDV là hàm số của cảm nhận và kỳ vọng, có thể được mô hình hóa như sau: CLDV = F {KC_5 = f(KC_1, KC_2, KC_3, KC_4)} Trong đó, CLDV là CLDV và KC_1,2,3,4,5 là các khoảng cách chất lượng 1,2,3,4 và 5. Parasuraman tiếp tục phát triển, hiệu chỉnh mô hình trên và đưa ra bộ mô hình đo lường CLDV SERVQUAL (Parasuraman & ctg, 1988, 1991) gồm có 10 thành 9 phần được tác giả Nguyễn Thành Công (2015) phân tích cụ thể trên tạp chí Phát Triển & Hội nhập: Tin cậy: khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và chính xác ngay từ lần đầu tiên.
Đáp ứng : nhân viên phục vụ luôn trong trạng thái sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho KH. Năng lực phục vụ: Nhân viên có đủ khả năng và trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ cho KH. Tiếp cận: KH được tạo mọi điều kiện để dễ dàng tiếp cận dịch vụ: rút ngắn thời gian chờ đợi của KH, điều chỉnh địa điểm phục vụ và giờ mở của theo nhu cầu của KH. Lịch sự: Nhân viên phục vụ luôn thân thiện, niềm nở và tôn trọng KH.