Chương 1. Những vấn đề chung về các tội có liên quan đến HIV trong Luật hình sự Việt Nam. Thực tiễn xét xử các tội có liên quan đến HIV trong luật hình sự Việt Nam và những kiến nghị, đề xuất. 6 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HIV TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Những khái niệm có liên quan đến HIV và các tội có liên quan đến HIV 1. Khái niệm về HIV và tình hình nhiễm HIV ở Việt Nam HIV (Viết tắt từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: Human Immunodeficiency Virus) là tên gọi tắt của một loại vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Cũng có thể hiểu “nôm na” HIV là loại vi rút làm mất dần sức đề kháng (khả năng chống lại bệnh tật) của con người. Kích thước của HIV vô cùng nhỏ bé, chỉ vào khoảng từ 80 – 120 nanomét (01 nanomét chỉ nhỏ bằng 01 phần tỷ mét).
Do vậy ta chỉ có thể nhìn thấy nó dưới kính hiển vi điện tử phóng đại hàng triệu lần. Nhờ kích thước nhỏ bé này HIV có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua các vết xây xước rất nhỏ và có thể qua cả niêm mạc. Khả năng biến đổi của HIV rất lớn nên hiện nay trên thế giới có nhiều chủng, dưới chủng HIV khác nhau. Thậm chí trong quá trình điều trị bằng các thuốc kháng vi rút (ARV) hiện nay HIV có thể biến đổi, trở nên kháng thuốc và các vi rút mới kháng thuốc này cũng lây truyền từ người này sang người khác.
Đây là khó khăn lớn nhất đối với việc nghiên cứu chế tạo vắc xin chống HIV cũng như thuốc điều trị AIDS. Bề mặt của HIV có rất nhiều gai nhú. Các gai nhú này giúp nó dễ dàng bám và đột nhập rất nhanh vào các tế bào bạch cầu - những tế bào vốn có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật. Các đặc điểm trên của HIV là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, chế tạo thuốc điều trị AIDS và vắc xin dự phòng lây nhiễm HIV.
Human Immuno – Deficiency virus viết tắt là HIV. Đây là loại vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. HIV tấn công vào tế bào bạch cầu, đồng thời tự nhân lên trong cơ thể, trước hết là tế bào CD4- tế 7 z bào đảm nhận chức năng kháng thể. HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể.
Khi sức đề kháng của cơ thể bị suy yếu, người nhiễm HIV mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội như viêm phổi, lao, nấm họng, ung thư… và dẫn đến tử vong. Acquiret Immune Deficiency Syndrom (AIDS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS tử vong là do các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Mẫu máu có HIV dương tính được phát hiện đầu tiên vào năm 1959 tại Zaize - châu Phi. Mãi đến năm 1981, bệnh AIDS trên lâm sàng được phát hiện đầu tiên tại Mỹ.
Tháng 6 năm 1983, khi sinh thiết hạch cho bệnh nhân AIDS, Luc Montagnien và Barré Sinousi đã phân lập được virus gây bệnh và đặt tên là LAV (virus liên quan đến bệnh hạch). Sau đó một năm, Robert Gallot ở Trung tâm ung thư của Mỹ đã khẳng định công trình của L. Montagnien lại phân lập thêm một virus tương tự ở Trung Phi. Cuối năm 1986, tại Hội nghị quốc tế tại Giơnevơ các nhà khoa học đã thống nhất tên gọi của hai loại virus này là HIV [52, tr.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng HIV được lây qua ba con đường: Một là, qua đường tình dục như quan hệ tình dục đồng giới hoặc khác giới với người bị nhiễm HIV. Hai là, qua đường máu như sử dụng bơm kim tiêm, xăm hình, dùng dao cạo râu chung với người nhiễm HIV, nhận truyền máu mà sản phẩm máu có HIV. Và ba là, lây từ mẹ bị nhiễm HIV sang con trong thời kỳ chu sinh (trước và trong khi sinh nở). Trong quá trình lây lan virút HIV luôn xác định hai loại chủ thể là người lây truyền HIV và người (bị) lây nhiễm HIV.
Dịch HIV/AIDS tuy mới xuất hiện từ đầu năm 1980 nhưng đã nhanh chóng lan ra toàn cầu. HIV tấn công mọi đối tượng nhưng chủ yếu là thanh niên, phụ nữ, trẻ em. Trong thập niên 80 và đầu những năm 90, dịch HIV/AIDS bùng nổ chủ yếu tại khu vực cận Sahara, châu Phi. Tính đến cuối 8 z năm 1999 tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới được Chương trình phối hợp của Liên hiệp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) cập nhật: ở Bắc Mỹ đã có 1,3 triệu người nhiễm HIV/AIDS; Khu vực Châu Mỹ la tinh có 1,6 triệu người; Tây Âu có 760.000 người; Bắc Phi và Trung Đông có 380.000 người; Trung Âu và Trung Á có 1,6 triệu người; Đông Á và Thái Bình Dương có 800.000 người; Nam và Đông Nam Á có 4,1 triệu người; Khu vực Tây Thái Bình Dương, có 116.568 trường hợp nhiễm HIV; 24.156 bệnh nhân AIDS và 11.913 ca tử vong do AIDS [49, tr.
Theo báo cáo mới nhất của Chương trình Phòng chống Liên Hiệp Quốc (UNAIDS), tới cuối năm 2010, ước tính có khoảng 34 triệu người đang sống chung với HIV trên thế giới, tăng 17% so với năm 2001. Số lượng các ca nhiễm mới tiếp tục tăng và mở rộng đáng kể, có hơn 2,7 triệu ca nhiễm mới HIV, trong đó có 390.000 trẻ em nhiễm HIV. Do được tiếp cận và điều trị kháng virút nên số người chết do AIDS đã giảm xuống còn 1,8 triệu người trong năm 2010, giảm từ mức đỉnh điểm 2,2 triệu người vào những năm 2000 số lượng người chết do HIV tiếp tục giảm, tuy nhiên vẫn còn ở mức cao và khó kiểm soát. Như vậy, có thể hiểu HIV là tên gọi tắt của một loại vi rút làm mất dần sức đề kháng chống lại bệnh tật của con người, gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người.
Khái niệm các tội có liên quan đến HIV Để tìm hiểu về khái niệm các tội có liên quan đến HIV, trước hết, tìm hiểu về khái niệm “tội phạm” trong luật hình sự Việt Nam. Trong quá trình thống nhất, xây dựng đất nước, khái niệm về “tội phạm” cũng dần được hình thành. Khái niệm này được ra đời đầu tiên, trong Bộ luật đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, BLHS năm 1985 (được thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII, ngày 27/6/1985). 9 z Khái niệm này đã phản ánh một cách khá đầy đủ các quy định về tội phạm và xác định cụ thể hành vi nào là phạm tội, mặc dù nó được hình thành trong bộ luật đầu tiên.
Đến ngày 02/02/1999, tại kỳ họp thứ X, Quốc hội đã thông qua bộ luật hình sự mới sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 1985. Bộ luật này đã sửa đổi khái niệm về tội phạm để phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999, đã thay thế BLHS năm 1985, trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc, chế định pháp luật ở nước ta. Tại khoản 1, điều 8, BLHS Việt Nam năm 1999 quy định “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
Có thể coi quy định về tội phạm nêu trên là quy định “có tính khoa học thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm”. Từ quy định mang tính định hướng này có thể rút ra khái niệm tội phạm một cách khái quát như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. Bên cạnh đó cần tìm hiểu về vấn đề có liên quan đến HIV. Như đã phân tích ở mục trên, HIV là loại vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (AIDS), là loại vi rút mà đến nay trên thế giới chưa có loại thuốc đặc trị, đồng thời có tốc độ lây lan cao, khả năng lây lan của vi rút HIV là rất dễ dàng và nhanh chóng.
Hiện nay theo nghiên cứu có ba con đường lây lan chính của vi rút HIV là lây qua đường máu, quan hệ tình dục và lây truyền từ 10 z mẹ sang con. Với tính chất nguy hiểm của vi rút này, cũng như đặc trưng cơ bản về việc dễ lây nhiễm đối với loại vi rút này. Hiện nay đại dịch HIV/AIDS đang diễn ra trên khắp thế giới với tính chất ngày càng nghiêm trọng. Ở Việt Nam trong giai đoạn đầu nhưng năm 90 có nhiều đối tượng đã lợi dụng tình trạng nhiễm HIV để cố ý lây truyền cho người khác, một số người thì đã cố ý truyền HIV cho người khác như bác sĩ truyền máu.
Để đấu tranh đối với tình trạng này, BLHS năm 1999 đã lần đầu tiên quy định hai tội mới liên quan đến lây truyền HIV là Tội lây truyền HIV cho người khác và Tội cố ý truyền HIV cho người khác. Theo khoản 1 Điều 117 quy định: Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm. Khoản 1 Điều 118 quy định: Người nào cố ý truyền HIV cho người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 117 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm. Như vậy, đây là những quy định cụ thể đầu tiên nhằm đấu tranh với một loại hành vi nguy hiểm cho xã hội mới là hành vi cố ý lây truyền hoặc cố ý truyền HIV cho người khác.
Ngoài ra trong BLHS còn quy định rất nhiều tình tiết tăng nặng định khung trong các điều luật tương ứng về hành vi biết mình nhiễm HIV mà vẫn phạm tội như tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm, cưỡng dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em. Các tình tiết tăng nặng này cho thấy tính chất nguy hiểm cao của hành vi do những người bị nhiễm HIV gây ra. Tuy nhiên, như phân tích tại phần phạm vi của luận văn thì luận văn chỉ nghiên cứu về các tội phạm có liên quan đến HIV được quy định tại Điều 117 và 118.