chương 1 Chương này đã giới thiệu lý do của vấn đề nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Daniel (1999) và Sathye (1999) đã định nghĩa “Dịch vụ NHĐT là việc cung cấp tự động các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng mới và truyền thống trực tiếp cho khách hàng thông qua các kênh truyền thông tương tác, điện tử”. Dịch vụ NHĐT bao gồm các hệ thống cho phép khách hàng (cá nhân hoặc doanh nghiệp) của tổ chức tài chính truy cập tài khoản, thực hiện giao dịch hoặc thu thập thông tin về các sản phẩm và dịch vụ tài chính thông qua mạng (mạng công cộng hoặc mạng riêng). Cá nhân hoặc doanh nghiệp có thể truy cập dịch vụ NHĐT bằng thiết bị điện tử thông minh, chẳng hạn như thông qua máy tính cá nhân (PC), trợ lý kỹ thuật số (PDA), máy rút tiền tự động (ATM) hoặc các thiết bị điện tử khác.
NHĐT cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng, như dịch vụ thanh toán điện tử (ECS), thanh toán tổng thời gian thực (RTGS), chuyển tiền điện tử (EFT), chuyển tiền điện tử quốc gia (NEFT), máy rút tiền tự động (ATM), ngân hàng bán lẻ, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, ngân hàng thẻ thông minh, ngân hàng di động, ngân hàng internet. Muhammad Siddique (2014) đã tập trung vào các nhân tố cơ bản khi cho rằng ngân hàng điện tử là một dịch vụ ngân hàng dựa trên Internet. Semir Ibrahimovic và cộng sự (2017) khám phá các loại dịch vụ khi xem xét ngân hàng điện tử như cả dịch vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ được cung cấp bằng điện tử. Ngân hàng điện tử thường được hiểu là thực hiện các giao dịch ngân hàng bằng điện tử, mặc dù có nhiều phương pháp khác nhau.
Trương Đức Bảo (2003), dịch vụ NHĐT giúp khách hàng có thể thực hiện các giao dịch tài chính với ngân hàng thông qua vai trò kết nối mạng. Thông tư 35/2016/TT-NHNN ngày 29/12/2016 Quy định về an toàn, bào mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet cho rằng: Dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet Banking) là các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ trung gian thanh toán được các đon vị cung cấp thông qua mạng Internet. Vì vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân hàng điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử. Những quan niệm này đôi khi đúng nhưng không thể tóm tắt được quá trình lịch sử phát triển và tương lai phát triển của ngân hàng điện tử.
Từ đó có thể nói, dịch vụ ngân hàng điện tử là tất cả các dịch vụ ngân hàng được thực hiện bằng điện tử, 7 cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch với ngân hàng mà không cần kết nối, liên hệ trực tiếp với ngân hàng, giúp ngân hàng cung cấp các dịch vụ ngân hàng vượt qua giới hạn về thời gian và không gian; truyền thống. các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng được phân phối qua các kênh mới như Internet, điện thoại, v.2 Các loại hình ngân hàng điện tử Hiện nay tại Việt Nam, các hình thức của dịch vụ NHĐT do các ngân hàng thương mại cung cấp khá đa dạng. Theo Nguyễn Minh Kiều (2018) dưới đây là một số loại hình phổ biến của dịch vụ NHĐT bao gồm: 2.1 Dịch vụ ngân hàng tại nhà Home Banking - Computer Banking cung cấp cho người tiêu dùng một loạt các dịch vụ tiện ích như chuyển tiền giữa các tài khoản, thanh toán hóa đơn, kiểm tra số dư séc, v., mua và bán chứng khoán. cũng như kiểm tra lãi suất cho vay và xem họ có đủ điều kiện để được vay hay không.
thẻ tín dụng hoặc thế chấp. Khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng thông qua mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng. Để sử dụng dịch vụ này, khách hàng cần có máy tính kết nối với hệ thống máy tính của ngân hàng thông qua đường dây điện thoại quay số, đồng thời khách hàng phải đăng ký số điện thoại và chỉ những số điện thoại này mới kết nối được với hệ thống homebanking của ngân hàng.2 Dịch vụ ngân hàng trực tuyến Dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Internet Banking) giúp khách hàng thực hiện các giao dịch với ngân hàng thông qua Internet. Thông qua các dịch vụ ngân hàng trực tuyến như truy vấn, sao kê tài khoản, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn điện tử, nạp tiền điện thoại, v., khách hàng cần có được các dịch vụ sau thông qua ngân hàng trực tuyến: kết nối với Internet ngân hàng trực tuyến thông qua các phương tiện điện tử như máy tính cá nhân hoặc điện thoại thông minh, sau đó truy cập trang web của ngân hàng Và thực hiện các giao dịch và truy cập thông tin cần thiết.
Trong thời đại công nghệ hiện đại ngày nay, dịch vụ ngân hàng trực tuyến đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển của ngành ngân hàng bởi tính tiện lợi không phụ thuộc vào địa điểm, thời gian giao dịch và tiết kiệm được nhiều chi phí (Gupta.3 Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại 8 Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Phone Banking) là sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng hoàn toàn tự động qua điện thoại. Vì hệ thống là tự động nên loại thông tin sẽ được định sẵn, bao gồm các thông tin như lãi suất, số dư tài khoản, tỷ giá hối đoái… Khi khách hàng yêu cầu cung cấp thông tin, hệ thống sẽ tự động fax các thông tin cần thiết nêu trên. Khách hàng gọi điện trực tiếp đến tổng đài để thực hiện thanh toán qua số điện thoại được cung cấp, hệ thống sẽ tự động phục vụ khách hàng hoặc được nhân viên tổng đài hỗ trợ trực tiếp. Để được xác thực là khách hàng hợp lệ, khách hàng phải nhập mã số cá nhân (PIN) hoặc mật khẩu qua bàn phím trên điện thoại di động (Nguyễn Minh Kiều, 2018).4 Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại – tin nhắn di động - Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Mobile Banking): Đây là hình thức thanh toán trực tuyến qua mạng điện thoại di động song song với phương thức thanh toán qua Internet (ngân hàng trực tuyến) ra đời từ đầu những năm 1990.
Ngày nay, dịch vụ mobile banking được các ngân hàng, công ty tiện ích đầu tư và phát triển mạnh mẽ. Nội dung dịch vụ cung cấp ngày càng đa dạng. Khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ sẽ được cấp tài khoản và mật khẩu để đăng nhập vào ứng dụng cài đặt trên điện thoại thông minh, máy tính bảng và thực hiện thanh toán qua ứng dụng bằng công nghệ viễn thông không dây trên nền mạng di động. - Dịch vụ ngân hàng qua tin nhắn di động (SMS banking): Để sử dụng dịch vụ SMS banking, khách hàng soạn tin nhắn trên điện thoại di động để thực hiện thanh toán theo cú pháp riêng do từng ngân hàng quy định (Nguyễn Minh Kiều, 2018).5 Thanh toán điện tử tại địa điểm chấp nhận thẻ - Thanh toán qua ATM: Khách hàng thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua hệ thống ATM (Máy rút tiền tự động).
Chức năng chính của máy ATM là rút tiền mặt do ngân hàng cất giữ trong máy. Để sử dụng máy ATM, bạn cần có thẻ ATM và mã PIN đã đăng ký với ngân hàng. Ngày nay, các máy ATM còn có thể thực hiện nhiều chức năng khác như chuyển khoản, truy vấn số dư, đầu tư chứng khoán… rất tiện lợi, giảm thiểu số lần khách hàng đến ngân hàng để giao dịch và giúp giao dịch của khách hàng linh hoạt hơn (Nguyễn Minh Kiều, 2018). - Thanh toán qua máy POS: Đây là hình thức dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua hệ thống máy cà thẻ tín dụng POS (điểm bán hàng).
Để sử dụng máy POS, khách hàng cần sử dụng thẻ ATM, thẻ tín dụng (Credit Card) hoặc thẻ ghi nợ trực tiếp 9 (Direct Debit Card) trên máy POS đặt tại điểm bán hàng, sau đó nhập mã PIN, nhập yêu cầu. số tiền cần thanh toán, và cuối cùng ký xác nhận Xác nhận để hoàn tất quá trình thanh toán. Nhân viên sẽ đối chiếu chữ ký của khách hàng với trung tâm xác thực danh tính của ngân hàng để thực hiện giao dịch cho khách hàng. Tiện ích mà dịch vụ này mang lại là giúp khách hàng thanh toán, mua sắm thuận tiện mà không cần dùng đến tiền mặt, không gây bất tiện hay các rủi ro khác (Nguyễn Minh Kiều, 2018).6 Dịch vụ ngân hàng điện tử qua thiết bị Kiosk Dịch vụ ngân hàng điện tử qua thiết bị Kiosk (Kiosk Banking) là dịch vụ ngân hàng công nghệ cao sử dụng công nghệ màn hình cảm ứng, có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như bán hàng, thông tin… và phát triển.
Khi khách hàng cần thực hiện giao dịch hoặc yêu cầu dịch vụ, khách hàng chỉ cần truy cập và cung cấp số CMND/CCCD, mật khẩu cá nhân để sử dụng dịch vụ của một hệ thống ngân hàng cụ thể. Khách hàng sử dụng thiết bị máy tính truy cập vào trang web của ngân hàng tại trạm, sau đó nhập tên đăng nhập và mật khẩu, hoặc sử dụng thẻ đã cắm vào máy, sau đó nhập mã PIN để thực hiện giao dịch tiếp theo. Các tiện ích dịch vụ này giúp chủ thẻ thực hiện các giao dịch như: gửi tiết kiệm, thanh toán hóa đơn, chuyển khoản, in sao kê, giải đáp thắc mắc… trực tuyến; quảng cáo trực tiếp các dịch vụ ngân hàng và quảng cáo gián tiếp các sản phẩm dịch vụ khác.2 Tiện ích của dịch vụ ngân hàng điện tử Theo Nguyễn Minh Kiều (2018) thì dịch vụ NHĐT có một số tiện ích sau: - Dịch vụ NHĐT giúp khách hàng thực hiện các giao dịch của mình một cách nhanh chóng và tiện lợi. - Ở bất cứ nơi đâu có sóng điện thoại hoặc mạng internet, khách hàng có thể sử dụng dịch vụ NHĐT để thực hiện các giao dịch của mình mà không cần đến ngân hàng.
- Với dịch vụ NHĐT, khách hàng không cần tốn nhiều thời gian như đến ngân hàng để thực hiện giao dịch của mình. - Khách hàng có thể mua các sản phẩm cần cho nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày của mình thông qua dịch vụ NHĐT.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử Theo Nguyễn Minh Kiều (2018) thì dịch vụ NHĐT có một số vai trò sau: 10 Dịch vụ NHĐT giúp ngân hàng cung cấp các sản phẩm đa dạng và nhanh chóng hơn. Ngân hàng có thể phục vụ được các khách hàng ở những nơi không đặt điểm giao dịch bên ngoài ngân hàng.