CHƯƠNG 1:TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN HQKD CUA DOANH NGHIEP 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Rami Zeitun và Gary Gang Tian (2007) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các công ty ở Jordan bang cách sử dụng mẫu dit liệu gồm 167 công ty trong giai đoạn 1989 - 2003. Đồng thời bài viết còn nghiên cứu ảnh hưởng của kinh tế vĩ mô đến hiệu quả hoạt động và cấu trúc vốn của công ty ví du như cuộc chiến tranh ở Trung Đông; xung đột ở Bờ Tây va Gaza; chiến tranh vùng Vịnh lần thứ 2 mà hầu như không được tìm thấy ở các nghiên cứu khác.
Nghiên cứu đưa ra các giả thuyết và sử dung mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên REM dé thực hiện phân tích hồi quy. Tác giả sử dụng các thước đo khác nhau về hiệu quả hoạt động của công ty: tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập trước lãi vay và thuế cộng với khấu hao trên tổng tài sản (PROF), giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với giá trị số sách của nợ trên giá trị số sách của tài san (Tobin's Q) , giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sô sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), giá mỗi cô phiếu trên thu nhập trên mỗi cô phiếu (P/E), và giá tri thị trường của vốn chủ sở hữu và giá tri số sách của nợ phải trả chia cho giá trị số sách vốn chủ sở hữu (MBVE). Trong nghiên cứu này, Tobin's Q, MBVR, P/E và MBVE được sử dụng để đo lường hiệu suất thị trường của các công ty, trong khi ROE, ROA va PROF được sử dụng làm thước do đại diện cho các thước đo hiệu suất kế toán. Kết quả cho thấy rang cấu trúc vốn của công ty có tác động tiêu cực đáng ké đến các thước đo hiệu quả hoạt động của công ty, trong cả thước đo kế toán và thị trường.
Ngoài ra, mức nợ ngắn hạn trên tổng tai sản (STDTA) có tác động tích cực đáng kể đến thước đo hiệu suất thị trường (Tobin's Q). Kết quả cũng cho thay môi trường kinh tế vĩ mô cũng tác động đáng kể đến hiệu quả kinh doanh của các công ty ở Jordan. 14 Sitraselvi Chandren, Sumaia Ayesh Qaderi (2021) nghiên cứu về mối quan hệ giữa các đặc điểm của Chủ tịch HĐQT (tuổi, chức danh, nhiệm kỳ và quyền sở hữu) và hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Nghiên cứu dựa trên tổng số mẫu gồm 267 quan sát, sử dụng hồi quy Bình phương tối thiểu thông thường (OLS) dé điều tra các giả thuyết được thiết lập cho 89 công ty phi tài chính hang đầu niêm yết trên TTCK Malaysia giai đoạn 2017 đến 2019.
Tác giả đo hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng 2 chỉ số đó là OPP (Tỷ suất lợi nhuận hoạt động) và OPL (Tỷ suất dòng tiền hoạt động). Các biến độc lập bao gồm: tuổi, chức danh, nhiệm kỳ và quyền sở hữu của Chủ tịch HĐQT. Các biến kiểm soát bao gồm: quy mô công ty, tài sản hữu hình, tuổi công ty, đòn bay tài chính, công ty kiểm toán và quy mô hội đồng quản trị. Kết quả nghiên cứu này cho thấy tuôi tác, nhiệm kỳ và quyền sở hữu của Chủ tịch HĐQT có tác động đáng kê đến hiệu quả hoạt động kinh doanh công ty, càng làm tăng tầm quan trọng của sự quản lý của chủ tịch HĐQT trong việc thực hiện các nhiệm vụ ở mức cao nhất vì sự thịnh vượng của cả công ty và các bên liên quan.
(2012) nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu, đặc điểm của hội đồng quản tri và hiệu quả tài chính để xác định vai trò của quản trị công ty đối với hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại một thị trường mới nổi ở Châu Phi như Botswana. Mô hình bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) được áp dụng cho các công ty niêm yết trên San giao dịch chứng khoán Botswana trong giai đoạn 2000 - 2007 dé xác định vai trò của quản trị công ty trong hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại thị trường mới nổi này. Bài nghiên cứu sử dụng cả thước đo hiệu suất dua trên số liệu kế toán và dựa trên số liệu thị trường làm biến phụ thuộc chăng hạn như ROA, ROE, và Log của vốn hóa thị trường (LnMktCap), Tobin’s Q. Các biến cấu trúc sở hữu (sở hữu của giám đốc tài trợ, sở hữu của chính phủ, sở hữu của tô chức, sở hữu công và sở hữu nước ngoài), các thông số quản trị công ty (ví dụ quy mô hội đồng quản trị, chủ trì ủy ban kiểm toán và ủy ban điều hành được coi là các biến giải thích được quan tâm.
Ngoài ra, một sô biên kiêm soát (biên giả ngành, beta, quy mô công ty và biên 15 giả năm) cũng được đưa vào mô hình. Kết quả chỉ ra rằng các biện pháp đo lường hiệu suất kết hợp và dựa trên số liệu kế toán không phù hợp với mô hình (tức là ROA, ROE và Tobin’s Q). Thước đo hiệu suất dựa trên số liệu thị trường dưới dạng biến phụ thuộc LnMktCap có thé giải thích vai trò của cấu trúc sở hữu và các biến đặc điểm của hội đồng quản trị với hiệu quả tài chính công ty. Nó ngụ ý rằng khu vực doanh nghiệp Botswana đã được nâng cao lên hệ thống định hướng thị trường trong việc phát triển các cơ chế quản trị doanh nghiệp phù hợp và giảm thiểu xung đột cơ quan hiện có.
Tác giả phát hiện các nhà đầu tư ít hấp dẫn hơn đối với (các) thước đo hiệu suất dựa trên số liệu kế toán hoặc kết hợp, vốn dễ bị thao túng kế toán trong quản lý thu nhập. Thay vào đó, các nhà đầu tư đặt giá trị cho hoạt động thị trường tự do dựa trên thông tin có sẵn về các công ty niêm yết. Pouraghajan và cộng sự (2012) đã điều tra tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tehran. Số mẫu được nghiên cứu và thử nghiệm gồm 400 công ty trong số các Công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tehran dưới hình thức 12 nhóm công nghiệp trong những năm 2006 đến 2010.
Trong nghiên cứu này, dụng dé đo lường hiệu quả tài chính của các DN, tác giả sử dụng hai chỉ số là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Kết quả cho thấy tỷ lệ nợ có mối tương quan ngược chiêu với hiệu quả tài chính và một mối quan hệ cùng chiều giữa vòng quay tài sản, quy mô công ty, tỷ lệ tài sản hữu hình và cơ hội tăng trưởng với các thước đo hiệu quả tài chính. Nhưng mối tương quan giữa ROA và ROE với thời gian kinh doanh lại không có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, một số ngành được nghiên cứu có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng bằng cách giảm tỷ lệ nợ, quản lý có thé tăng khả năng sinh lời của công ty và do đó số lượng thước đo hiệu quả tài chính của công ty và cũng có thé làm tăng tài sản của cổ đông. (2019) tìm hiểu mức độ tập trung quyền sở hữu và bản sắc ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của công ty trong một nền kinh tế lớn trên thế giới - Trung Quốc. Nghiên cứu này xem 16 xét cơ cầu quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết ở Trung Quốc. Bằng cách phân biệt giữa sở hữu tài chính và sở hữu doanh nghiệp, đồng thời kết hợp sở hữu đó với sở hữu trong nước và sở hữu nước ngoài, bài viết này xem xét tác động của bốn loại hình sở hữu khác nhau đối với hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết ở Trung Quốc.
Mẫu dữ liệu được thu thập từ năm 2007 đến năm 2017 trên Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến.490 doanh nghiệp trong cơ sở đữ liệu và đến cuối năm 2017, số lượng doanh nghiệp đã tăng lên 3. Biến phụ thuộc được tác giả lựa chọn làm thước đo hiệu quả hoạt động công ty là Tobin’s Q va ROA. Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng 10 biến độc lập: mức độ tập trung quyền sở hữu (HHI, CR3, CR5) và các biến về tỷ lệ sở hữu (COR hoặc FIN và FOR hoặc DOM), tổng tài sản, đòn bẩy và tuổi của công ty. Kết quả nghiên cứu thấy rằng sự tập trung quyền sở hữu có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty và quyền sở hữu công ty dẫn đến hiệu quả hoạt động của công ty cao hơn quyền sở hữu tài chính.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các công ty Trung Quốc sở hữu nước ngoài có lợi thế hơn so với các công ty chỉ sở hữu trong nước. Saecd và cộng sự (2013) xem xét tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Pakistan. Nghiên cứu mở rộng nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố quyết định cấu trúc vốn của các ngân hàng trong nước trong khoảng thời gian 5 năm từ 2007 đến 2011 bằng cách sử dụng dữ liệu của các ngân hàng niêm yết tại thị trường chứng khoán Karachi. Mẫu nghiên cứu bao gồm 25 ngân hàng, được niêm yết tại (KSE) hoặc các ngân hàng được liệt kê trong danh sách của Ngân hàng Nhà nước Pakistan (SBP) tại Pakistan.
Nhiều mô hình hồi quy được áp dụng để ước tính mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Hiệu quả hoạt động trong bài nghiên cứu được đo lường bằng chỉ số ROA; ROE và EPS (thu nhập trên mỗi cổ phiếu). Các yếu tố quyết định cấu trúc vốn bao gồm tỷ lệ nợ dai hạn trên vốn, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên vốn và tỷ lệ tổng nợ trên vốn. Kết qua của nghiên cứu cho thấy răng, tỷ lệ nợ ngắn hạn, tổng nợ và quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến các chỉ số ROA, ROE và EPS, trong 17 khi tỷ lệ nợ dài hạn lại có ảnh hưởng tiêu cực đến các chỉ số này.
Tốc độ tăng trưởng tài sản không có ảnh hưởng đến ROA và ROE. Fozia Memon, Niaz Ahmed Bhutto và Ghulam Abbas (2012) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tai chính doanh nghiệp trong ngành dét may của Pakistan. Mẫu dữ liệu được sử dụng của 141 công ty dệt may của Pakistan giai đoạn 2004 - 2009.