CHƯƠNG 1 Chương này trình bày lược khảo các kết quả nghiên cứu trước của 4 nghiên cứu nước ngoài của các tác giả Stoderstrom & Sun (2007), Ferdy van Beest và các cộng sự (2009), Komola (2012) cho kết quả các nhân tố hệ thống pháp lý, chuNn mực kế toán, việc trình bày và thiết lập BCTC hay các đặc tính như tính kịp thời, trình bày trung thực, tính dễ hiểu, tính thích hợp và có thể đôi sánh có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC. Ngoài ra, các nghiên cứu trên còn xây dựng được công cụ thang đo liên quan đến nhà quản trị và nhân tố hiểu biết của các giám đốc và ban quản trị cấp cao cũng tác động đến chất lượng thông tin trên BCTC. Chương này cũng trình bày các kết quả của nghiên cứu Việt Nam của các tác gải Phan Minh Nguyệt (2014), Nguyễn Hữu Bình (2012) và Phạm Thanh Trung (2016), bằng cách lược khảo các lý thuyết trước đây và phát triển các lý thuyết này vào Việt Nam, cụ thể là địa bàn TPHCM và các công ty niêm yết trến sàn chứng khoán. Từ đó, tác giả tìm ra được khe hở nghiên cứu cho công trình và xác định được hướng nghiên cứu của luận văn.
11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TTKT TRÊN BCTC 2.1 Tổng quan về BCTC 2.1 Khái niệm về BCTC Theo Luật Kế toán Việt Nam (2015) có hiệu lực từ năm 2017, Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị kế toán. Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán gồm: Báo cáo tình hình tài chính; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính; Báo cáo khác theo quy định của pháp luật. Việc lập báo cáo tài chính của đơn vị kế toán được thực hiện như sau: • Đơn vị kế toán phải lập báo cáo tài chính vào cuối kỳ kế toán năm; trường hợp pháp luật có quy định lập báo cáo tài chính theo kỳ kế toán khác thì đơn vị kế toán phải lập theo kỳ kế toán đó; • Việc lập báo cáo tài chính phải căn cứ vào số liệu sau khi khóa sổ kế toán. Đơn vị kế toán cấp trên phải lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất dựa trên báo cáo tài chính của các đơn vị kế toán trong cùng đơn vị kế toán cấp trên; • Báo cáo tài chính phải được lập đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ kế toán; trường hợp báo cáo tài chính trình bày khác nhau giữa các kỳ kế toán thì phải thuyết minh rõ lý do; • Báo cáo tài chính phải có chữ ký của người lập, kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán.
Người ký báo cáo tài chính phải chịu trách nhiệm về nội dung của báo cáo. Báo cáo tài chính năm của đơn vị kế toán phải được nộp cho cơ quan nhà nước có thNm quyền trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm theo quy định của pháp luật. Bộ Tài chính quy định chi tiết về báo cáo tài chính cho từng lĩnh vực hoạt động; trách nhiệm, đối tượng, kỳ lập, phương pháp lập, thời hạn nộp, nơi nhận báo cáo và công khai báo cáo tài chính. 12 Như vậy, BCTC kế toán phản ánh một cách có hệ thống tình hình tài sản, công nợ, tình hình sử dụng vốn và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong những thời kỳ nhất định, đồng thời chúng được giải trình giúp cho các đối tượng cần thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để đề ra các quyết định cho phù hợp.
BCTC là kết quả của công tác kế toán trong một chu kỳ kế toán, kết quả này cũng chính là kết quả cuối cùng của kế toán tài chính.2 Mục đích của BCTC Theo Võ Văn Nhị (2015), BCTC được tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán, do đó cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán trong tương lai. Hơn nữa, BCTC có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng ở bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính trên một giác độ khác nhau, song nhìn chung đều nhằm có được những thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định phù hợp với mục tiêu của mình: • Với nhà quản lý doanh nghiệp, báo cáo tài chính cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản cũng như tình hình và kết quả kinh doanh sau một kỳ hoạt động, trên cơ sở đó các nhà quản lý sẽ phân tích đánh giá và đề ra được các giải pháp, quyết định quản lý kịp thời, phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. • Với các cơ quan hữu quan của nhà nước như tài chính, ngân hàng kiểm toán, thuế.
BCTC là tài liệu quan trọng trong việc kiểm tra giám sát, hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. • Với các nhà đầu tư, các nhà cho vay báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng về tài chính, tình hình sử dụng các loại tài sản, nguồn vốn, khả năng sinh lời, hiệu quả 13 hoạt động sản xuất kinh doanh, mức độ rủi ro. để họ cân nhắc, lựa chọn và đưa ra quyết định phù hợp. • Với nhà cung cấp, báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng thanh toán, phương thức thanh toán, để từ đó họ quyết định bán hàng cho doanh nghiệp nữa hay thôi, hoặc cần áp dụng phương thức thanh toán như thế nào cho hợp lý.
• Với khách hàng, báo cáo tài chính giúp cho họ có những thông tin về khả năng, năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phNm, mức độ uy tín của doanh nghiệp, chính sách đãi ngộ khách hàng. để họ có quyết định đúng đắn trong việc mua hàng của doanh nghiệp. • Với cổ đông, công nhân viên, họ quan tâm đến thông tin về khả năng cũng như chính sách chi trả cổ tức, tiền lương, bảo hiểm xã hội, và các vấn đề khác liên quan đến lợi ích của họ thể hiện trên báo cáo tài chính.3 Hệ thống BCTC của một doanh nghiệp Theo TT 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 20/12/2014 của Bộ tài chính, các DN bắt buộc phải lập 4 báo cáo sau: Bảng cân đối kế toán: đây là bản BCTC tổng hợp đầu tiên phải đề cập vì mức độ quan trọng của nó đối với DN, vì nó cho thấy khái quát về tình hình nguồn vốn và tài sản cũng như cơ cấu hình thành tạo ra tài sản đó của DN tại một thời điểm nhất định mà trong bản báo cáo ghi rõ, từ đó giúp các nhà sử dụng BCTC có sự phân tích, đánh giá và cái nhìn tổng quát hơn về những tín hiệu tài chính của DN mà họ đang quan tâm. Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 phần, đó là phần tài sản và phần nguồn vốn.
Khi xem xét phần tài sản, các chỉ tiêu trong phần tài sản cho phép đánh giá một cách tổng quát về tất cả giá trị của tài sản DN tại thời điểm phát hành BCTC, hay nói cách khác nó phản ánh năng lực về vốn cũng như là tiềm lực kinh tế mà DN có quyền sở hữu và sử dụng lâu dài gắn với các khoản lợi ích thu được trong tương lai. Sau đó liên quan đến nguồn vốn, với các chỉ tiêu được thể hiện ở phần này sẽ hỗ trợ cho những đối tượng sử dụng có cơ hội nắm bắt được thực trạng tài chính, nguồn hình thành tài sản hiện có của DN tại thời điểm báo cáo, đồng thời nó còn thể hiện trách nhiệm pháp lý của DN về số vốn đã đăng ký kinh doanh, cũng như tài sản đang sở hữu và sử dụng, chẳng hạn như các khoản nợ thuế, nợ tiền lương công nhân, nợ nhà cung cấp,. 14 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là một BCTC thể hiện một cách tổng quát về các chi phí phát sinh tạo ra doanh thu mang lại và các hoạt động khác nhau tạo ra doanh thu và thu nhập của DN trong một thời kỳ nhất định. Báo cáo kết quả kinh doanh được các nhà đầu tư rất quan tâm trong việc tìm kiếm đối tác hay chọn mua cổ phiếu.
Một báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tốt sẽ tạo tiền đề hỗ trợ cho DN một cách tốt nhất khi sở hữu một bộ mặt tài chính hiệu quả và nâng cao uy tín của DN, tạo lòng tin đối với công chúng cũng như các đối tác của mình. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: đây là một BCTC phản ánh các khoản thu và chi tiền của DN theo từng hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính nhằm trình bày cho người sử dụng biết nguồn gốc phát sinh của tiền tệ và cách thức sử dụng tiền tệ trong kỳ báo cáo. Từ đó giúp họ có thể phân tích, đánh giá và đưa ra các dự đoán nhằm hỗ trợ cho mục đích của mình. Bản báo cáo lưu chuyển tiền tệ bao gồm 3 phần, phần 1 phản ánh toàn bộ dòng tiền được lưu chuyển có liên quan đến các hoạt động kinh doanh của DN như tiền thu bán hàng, chi phí tiền trả cho nhà cung cấp,.; phần 2 phản ánh toàn bộ dòng tiền luân chuyển hoạt động đầu tư từ các dòng tiền đầu tư mua sắm TSCĐ hay góp vốn liên kế, liên doanh hay mua các cổ phiếu hoặc cho vay, gửi tiền nhàn rỗi tại ngân hàng.; phần 3 phản ánh toàn bộ dòng tiền được lưu chuyển từ các hoạt động tài chính như góp vốn, vay vốn, phát hành chứng khoán Thuyết minh BCTC: là một phần cấu tạo nên hệ thống BCTC nhằm thuyết minh, bổ sung và giải trình các thông tin liên quan đến tài chính trong kỳ phát hành báo cáo.