Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về bùa chú và địa bàn nghiên cứu Nội dung của chương nói lịch sử nghiên cứu, phân tích phương pháp và khung lý thuyết tiếp cận vấn đề. Các khái niệm công cụ liên quan tới vấn đề nghiên cứu, và địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Bùa chú trong đời sống Chương này chúng tôi đưa ra các tiêu chí để phân loại bùa chú, và các loại bùa chú được sử dụng trong đời sống của người Việt. Chương 3: Bùa chú, thị trường và đời sống tâm linh Chúng tôi đề cập đến quy trình sản xuất ra bùa chú: Từ người sản xuất ra bùa chú, các phương thức sản xuất ra bùa chú, người tiêu thụ bùa chú, các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng bùa chú trong đời sống của người dân.
Kết luận 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BÙA CHÚ VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn đề Bùa chú nằm trong ma thuật, và nó là hiện vật của tôn giáo tín ngưỡng vì vậy trong các công trình nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng từ sớm đã ít nhiều đề cập đến bùa chú một cách gián tiếp hoặc trực tiếp. Nghiên cứu về vấn đề này đáng kể phải kể đến các công trình nghiên cứu của:Edward Tylor, Frazer, Macel Mauss, Bronislaw Malinowski.
Những nghiên cứu của các tác giả này có tầm ảnh hưởng lớn trong nghiên cứu ma thuật nói chung và bùa chú nói riêng. Nghiên cứu, ma thuật từ góc độ nhân học đã phát triển hơn một thế kỷ qua, có thể kể từ những công trình nghiên cứu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của các nhà nhân học như Edward Tylor, ông là một nhà tiến hoá luận xã hội, ông nhìn thấy tôn giáo tiến hoá từ các điều kiện đơn giản, nguyên thuỷ. Ông đã hình thành tương đối có hệ thống về ma thuật trong công trình của mình mang tên (Primitive Cultures) (1871) dịch Văn hóa nguyên Thủy [66]. Ông đã gắn trước hết thần linh ma thuật vào vật linh giáo nguyên thủy, ông cũng đề cập về ma thuật mẫn cảm nghĩa là những nghi lễ ma thuật tiến hành trước nó theo những luật gọi là mẫn cảm, cái này với cái nọ, cái gần gũi này với cái gần gũi khác, từ hình ảnh đến các vật, từ bộ phận tới toàn thể, nhưng chính chủ yếu là để cho thấy rằng trong các xã hội của chúng ta, nó là một bộ phận của hệ thống các tàn dư.
Tylor cho rằng, những quan niệm theo hướng vạn vật đều có linh hồn hoàn toàn thuộc về buổi sơ khai/thời thơ ấu của loài người, không phải ở thời hiện đại tuổi trưởng thành.Thực ra Tylor không có sự giải thích nào về ma thuật trong khuôn khổ vật linh giáo.Theo ông, trong văn hóa của các bộ lạc nguyên thủy những thầy pháp làm ma thuật có những cách tiếp cận giống như một nhà khoa học, nhưng các thầy pháp mắc sai lầm vì họ cho rằng mối quan hệ nhân quả không tồn tại đơn giản vì các sự vật có vẻ là giống nhau. Thêm vào nữa, Tylor không đặt ma thuật vào trong thế giới của tôn giáo vì không có thần thánh liên quan, mà theo ông thần thánh là những yếu tố quan trọng cần thiết để nhận diện tôn giáo. Còn James George Frazer, nhìn thấy ma thuật như là logic sai lầm về sự truyền cảm hay lây nhiễm. Theo Ông, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nếu tôi đâm cái kim vào con búp bê làm giống kẻ thù của tôi, tôi có thể làm cho kể thù bị đau “truyền cảm”.
Nếu tôi ăn trộm cái gì đó từ một người may mắn, sự may mắn của họ sẽ lây sang tôi, hay “lây nhiễm”. Ma thuật và tôn giáo đã trở thành nội dung trung tâm cuốn Cành vàng (The Golden Bough), của Frazer. Ông đã đi tới những những lý thuyết thực sự. Cũng giống như E.Tylor, Frazer cho rằng: Ma thuật là một loại khoa học có trước khoa học.
Đối với Frazer ông đều cho ma thuật là tất cả những hành động nhằm tạo ra các hiệu lực riêng biệt bằng cách áp dụng hai định luật: Mẫn cảm, và đồng hóa. Theo đề mục cổ điển của James Frazer sympathetic magic (ma thuật giao cảm) thì ma thuật đồng cảm bao gồm hai tiểu loại nói về các phương thức công hiệu ma thuật: Homeopathic magic (phép vi lượng đồng cân) – đây là ma thuật hoạt động thông qua hành động tương đồng gián tiếp, sự giống nhau sản sinh ra sự giống nhau, và contagious magic (phép lây nhiễm) – đây là ma thuật hoạt động thông qua hành động tiếp xúc trực tiếp có ảnh hưởng đến kết quả mong muốn. Hành hộng ma thuật có thể đồng thời biểu thị cả hai phương thức công hiệu này vì về nguyên tắc hoạt động chúng bổ trợ lẫn nhau chứ không loại trừ nhau. Ví dụ, một bùa mê tình yêu có thể dùng các chất vi lượng đồng cân (thảo dược, đá, vải, v.v – những vật, xét về mặt tượng trưng hoặc tác dụng chữa bệnh, gắn liền với tình yêu và mong muốn tăng thêm) cũng như các chất hoạt động qua sự lây nhiễm (một món tóc hoặc một vật dụng mà người bị bỏ bùa xé hoặc sờ phải).
Ông đã lập luận như sau: “Cái đồng dạng tạo ra cái không dạng, các vật tiếp xúc với nó nhưng đã không còn tồn tại nữa tiếp tục tác động cái này với cái kia như là sự tiếp xúc vẫn tồn tại” và người ta có thể thêm vào như một hiệu quả: “Bộ phận được coi là cái toàn thể như là hình ảnh đối với các vật tiêu biểu” như thế định nghĩa tạo ra của trường phái nhân chủng học nhằm thu hút ma thuật vào ma thuật mẫn cảm. Mẫn cảm là đặc tính đủ và cần thiết của ma thuật, tất cả các nghi lễ ma thuật đều mẫn cảm và ngược lại. Ông đã hoàn toàn biến nó vào những hiện tượng mẫn cảm nhưng ông đã không có những chứng minh lý lẽ cho sự lựa chọn ấy. Cả Frazer and Tylor coi ma thuật như là một phần của tư duy sai lầm và lây nhiễm mà họ gán ghép cho những điều kiện xã hội nguyên thuỷ và ít tiến hoá về những dân tộc mà họ nghiên cứu.
Họ nhìn thấy những ví dụ về ma thuật trong xã hội 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như là “tàn dư” của thời nguyên thuỷ. Frazer và Tylor dựa vào những bài viết, ghi chép của những người du lịch, truyền giáo, những người phục vụ cho chế độ thực dân. Hai ông là “Nhà nhân học ghế bành”, nghiên cứu tại nhà và không bao giờ tiếp xúc với người dân, những con người mà về họ hai ông phân tích, lý giải văn hoá của họ. Emile Durkheim cho rằng: ma thuật thường tập trung vào sự cần thiết và điều mong muốn của một cá nhân.
Chẳng hạn, người nông dân muốn có mưa, người đàn ông trẻ muốn có vợ, người phụ nữ cần chữa bệnh. Đối lập với nghi lễ tôn giáo mà nó được tiến hành vì mục đích tốt cho cộng đồng, ma thuật được hướng tới mục đích cuối cùng rất thực tế như là được chỉ định rõ ràng bởi cá nhân. Ma thuật thường được sử dụng trong các nghi lễ mang tính cầu cúng như cầu mưa, bảo vệ cộng đồng chống lại kẻ thù. Đến Marcel Mauss, ông đã mở đường cho một phương pháp nghiên cứu nhân học ma thuật mới, đó là phương pháp điền dã dân tộc học trong nghiên cứu về ma thuật.
Những luận điểm và phân tích của ông về ma thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu về ma thuật. Trong công trình tiêu biểu nghiên cứu về ma thuật là “A General Theory of Magic” Mauss, Marcel [71], Marcel Mauss đã cho rằng ma thuật là một hiện tượng xã hội giống như khoa học và tôn giáo nhưng nó có tính “cá thể hơn tôn giáo”. Ông đã làm rõ mối quan hệ của ma thuật và tôn giáo: Ma thuật mang tính cá nhân, bí mật và thường bị cô lập và hiếm khi được thực hiện công khai để bảo tồn những kiến thức huyền bí thì tôn giáo thường tiến hành công khai để truyền đạt kiến thức cho cộng đồng. Tôn giáo hướng về siêu hình học và nhằm tạo ra những hình ảnh lý tưởng thì ma thuật bằng muôn vàn những kẽ nhỏ đã đi ra khỏi đời sống thần bí mà trong đó tiếp sức lực cho nó để rồi nó trà trộn vào cuộc sống thông dụng hàng ngày và phục vụ cho nó.
Nó hướng về cụ thể, trong khi tôn giáo hướng về trừu tượng. Mauss nhận định rằng: Ma thuật là một nghệ thuật thực tiễn mà còn là một kho tàng các ý niệm, nó tiếp xúc với các chất liệu, tiến hành các thực nghiệm thực sự và cả những phát minh nữa để đem lại kết quả nhất định. Bằng phương pháp điền dã dân tộc học Marcel Mauss đã quan sát và mô tả những thực hành ma thuật trong đời sống của người dân ở một số bộ lạc của Châu Úc, một số xã hội Millaninin, vùng Mexique cổ xưa; ma thuật hiện đại của người Mã Lai, Ấn Độ; để rồi ông hệ thống nó lại và đưa lên thành những luận thuyết trong nghiên cứu về ma thuật. Ông đã đã đưa ra và phân tích 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cách có hệ thống các yếu tố của ma thuật từ người có quyền năng thực hành ma thuật (thầy phù thủy) các đặc điểm của họ, cuộc sống của họ, những nghi lễ họ phải trải qua…đến niềm tin của người dân vào sức mạnh của ma thuật.
Những luận thuyết của Marcel Mauss như là kim chỉ nan trong nghiên cứu về ma thuật. Malinowski, Bronislaw [29] trong “Magic, science and religion”1 ông đã sống và trực tiếp quan sát cuộc sống, thực hành ma thuật của người dân trên đảo Trobriands, phát triển một khía cạnh mới trong lĩnh vực nghiên cứu nhân học nói chung và ma thuật nói riêng. Theo Malinowski, “ma thuật” giải quyết những vấn đề mang tính không chắc chắn trong cuộc sống tại đảo Trobriand, đặc biệt là những thế lực thiên nhiên tác động vào làm vườn và chuyến đi biển xa. Malinowski chấp nhận ý tưởng của Sir James Frazer, là thực hành ma thuật, những người nguyên thuỷ đã thực hành “khoa học nguyên thuỷ.” Ông quan điểm ma thuật là sự thay thế nghèo nàn cho khoa học, ít ra thì là một khoa học nguyên thuỷ.
Mặc khác, ông nhận thấy ma thuật là sự cần thiết của người ở đảo Trobriands bên cạnh những trí thức bản địa về cuộc sống, làm vườn và đi biển. Nghiên cứu của Malinowski có tầm ảnh hưởng rất lớn trong nghiên cứu nhân học về ma thuật.