Chương 1: Một số van để lý luận vẻ béi thường thiệt hai do nguồn nguy. hiểm cao độ gây ra. 9 Chương 2: Thực trang pháp luật vẻ bồi thường thiệt hai do nguồn nguy. hiểm cao độ gây ra.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật vẻ bôi thưởng thiệt hai do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra tại thành phó Ha Nội va một số kiến nghị, giải pháp hoan thiện 10 Chương MOT SỐ VẤN DE LÝ LUẬN VE BOI THƯỜNG THIET HAI DO NGUON NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 111. Khái niệm, đặc điểm và các tiêu chi xác định nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại 1. Khái niệm, đặc diém nguồn nguy hiểm cao độ 1.111 Khái niềm nguằn nguy hiém cao độ Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy dink: “Nguồn nguy hiểm cao a6 bao gồm phương tiên giao thông vận tải cơ giới, hệ thông tải điện, nhà may công nghiệp dang hoạt đông, vũ khí, chất nỗ, chất cháy, chất độc, chất phóng. xa tim đi và nguôn nguy hiém cao độ khác do pháp luật quy ainh Quy định nay đã kế thửa toàn bộ theo quy đính tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dn sự năm 2005 Điêu 623 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Nguồn nguy Hiểm cao độ bao gôm phương tiên giao thông vận tải cơ giới, hệ thông tải điên, nhà may công nghiệp dang hoạt động.
vũ khí, chất nỗ, chất cháy, chất độc, chất phóng. xa thủ đi và các nguôn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định Có thé thấy Điển 623 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng như hướng dẫn tại Nghỉ quyết số 03/2006/NQ - HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội ding thẩm. phán Tòa án nhân dân téi cao hướng dẫn áp dung một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 vé bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đều không có khái nniém nguồn nguy hiểm cao độ là gi ma theo hướng liệt kê tai sản nao là nguồn nguy hiểm cao độ. "Như vậy các quy đính nêu trên không đưa ra khái niệm nguồn nguy hiểm cao đô ma chi liệt kê các đối tượng được coi là nguồn nguy hiểm cao đồ.
"Trong Bộ luật Dân sự và thương mai Thai Lan nguồn nguy hiểm cao đô được zác định như sau: “Ngudn nguy hiém cao độ ià bắt cứ vật chất nào H ing méy móc. những vật có thé gập nguy hiểm bot tinh hắt, mục đích hoặc sue vin hành cơ khi của chung”. Cong trong Bộ luật Dan sự Nhật Bản quy định. “các nhd máy chế tao, nơi Khat thác khoáng sản gập chấp nd, độc hại phương tiện giao thông.
vận tải cơ giới là nguồn nguy Tiễm cao độ Có thé thấy, khái niêm nguồn nguy hiểm cao độ ở một số nước vừa nêu cũng theo hướng liệt kê các tải sản nao lả nguồn nguy hiểm cao đô mã không có một khái niệm chung nhất. Do đó vừa khó để nhận diện đổi tượng nao la nguốn nguy hiểm cao độ va cũng khó để liệt kê chính xác tai sản nao la nguồn nguy hiểm cao độ. "Trong khoa học pháp lý ở nước ta, đã có nhiễu tác giả đưa ra khái niệm. nguốn nguy hiểm cao độ.
Có thé đưa ra một số quan điểm sau: ‘Theo tác giả Lê Mai Anh thì nguồn nguy hiểm cao độ được hiểu như. sau: “Nguén nguy hiểm cao độ là vat chất trong thế giới tự nhiên hay hoạt đông máp móc, các phương tiên khoa học Hf thuật ,„ trong quá trình hoạt động của ching dé gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe cho người khác mà con người không tỉ im soát được một cách tuyệt đối”. Tuy nhiên, khải niêm. theo hướng liết kế một số nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng sự liệt kê lại không thống at về nội ham của các thuật ngữ.
dụng các cum từ như “hoạt động máy móc”, "các phương tiện khoa học kỹ thuật",. mã các cum từ nay lại có các ý nghĩa khác nhau. Trong đó, cụm từ “hoạt đồng máy móc" nói dén hoạt động của mét loại tài sản, "các phương tiện khơa học kỹ thuật" nỏi đến một loai tải sản”. Theo quan điểm của tac gia, noi đến nguôn nguy hiểm cao độ là nói đến một loại tai sản ma không phải nói đến.
12 hoạt động của một loại tai sản, mặc dù tại thời điểm gây thiét hại, tai sin đó phải đang hoạt đông (trang thái của tải sin). Tác giả Nguyễn Thanh Hong nêu khái niém sau: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm những động vật hoặc bắt động vật mà kì trông giữ; van hàm ching hoặc cho ching hoạt đông thi có thé gây nguy hiém cao độ đối với tinh mạng sức kide của con người, cũng nửn có thé gây thiệt hại lớn dén tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân "Š. Trong khái niệm này, tác gia van di theo hướng liệt kê bằng các cụm tir khác nhau (động vat, bất đông vê. Tuy nhiên, việc sử dụng một số cum tử như "vận hành chúng”, “cho chúng hoạt đông” nói đến hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ 1a chưa đây đủ.
Việc sử dung các cum từ này cho thay rằng, theo quan điểm của tác gia, hoạt động của các loại nguồn nguy hiểm cao độ phụ thuộc vao ý chi của con người mà không ‘bao gồm “hoạt động tự thân” Nhìn chung, khái niệm nguồn nguy hiểm cao đô của các tác giả vừa siêu van theo hướng liệt kê nên khó có thé bao ham hết nội dung khái niệm. nguén nguy hiểm cao đô. Theo quan điểm của tac giả, nguồn nguy hiểm cao. đô cân được hiểu như sau.
“Nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản mà hoạt động của né luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hai lớn cho con người Và mỗi trường xung quanh với mức độ cao hơn bình thường, mà con người kh có thé phòng tránh và phản ứng kip thời trước hoat đông gật thiệt hat của nô 1. Đặc điểm của nguén nguy hiểm cao độ Thứ nhất, nguồn nguy hiểm cao đô luôn tiêm ẩn khả năng gây ra thiệt hại bất ngờ cho con người hoặc gây thiệt hai vé tải sản mà không phải bao giờ con người cũng có thé lường trước được và có thé ngăn chấn. Hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ có thé gây ra thiệt hại một cách bat ngờ, con người ` Nggẫn Tank Hằng, Đáchnlujoxbảithrừng trật as tung cic oatainan git thẳng đường bổ, Ln in ‘sine hộthọc,2001 13 có thé nấm bất quy trinh hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ viée gây thiệt hai thì không thé biết trước được. ‘Thi hai, nguén nguy hiểm cao độ có kha năng gây thiệt hại với tân xuất ao hơn các loại tai sản khác.
Các tải sin thông thường được con người sử dụng để phục vu cho nhu cầu của cuộc sống nhưng tw bản thân khó hoặc không có khả năng gây thiệt hai cho chủ thể khác, néu có khả năng thi thời gian lấp lại việc gây thiệt hai la rất lâu thậm chí không lặp lại (Ví du: cây cỗ thụ trồng ở via hè do trời mưa bão lam đỗ vào xe 6 tô đỗ ở vệ đường dẫn tới hư hing của xe, trường hợp này khi cây để đỗ thường sé không thé trồng lại nên cây này không thể lặp lại việc gây thiết hại nữa). Nguôn nguy hiểm cao đô không những có thé tự thân gây thiệt hai cho chủ thể khác mã còn có thé gây thiết hại nhiễu lẫn với nhiêu chủ thể khác nhau trong thời gian nhất định (Ví du: Anh A đang điều khiển xe mô tô trên đường tuân thủ các quy định về an toàn giao thống đường bộ, anh A thường xuyên bảo dưỡng xe theo quy định, tuy nhiên khi dang di trên đường chiếc xe bỗng nỗ lốp vì rồi đâm vao châu B dang điều khiển xe đạp phía trước hau quả làm cháu B xã xe và bi thương côn chiếc xe hư hing hoàn toản, liễn ngay sau đó chiếc xe mé tô do anh A điểu khiến đã đâm vào anh C đang diéu khiển xe 6 tô phía trước hậu quả lam chiếc xe bi vỡ đèn hậu, trường hop này nguồn nguy hiểm cao đồ là xe mô tô của anh A đã gây thiệt hại về sức khỏe và tài sin của cháu B đồng thời gây thiết hai vé tải sản của anh C). Thứ ba, thiệt hại do nguôn nguy hiểm cao độ gây ra thường khó hạn chế cũng như khắc phục. Các loại tai sản thông thường khi gây ra thiệt hại thường thi có thé dé đảng khắc phục hậu quả vả việc gây thiệt hai sẽ không tiếp tục.
Nguồn nguy hiểm cao đô gây ra thiệt hại có thé gây ra hậu quả trước mất va cũng có thé gây thiệt hại lâu dai khó có thể ngăn chặn. Có thé coi đây chính là điểm phân biệt giữa nguồn nguy hiểm cao độ so với các loại tải sẵn. thông thượng 14 ‘Thi tư, nguồn nguy hiém cao độ có thé gây thiệt hai dù dang được con người quản lý chất chế. Người quản lý hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải quản lý chặt chế đồng thời ngăn chăn người khác tiếp xúc với nguồn nguy hiểm cao độ để phòng ngừa thiệt hại có thể xay ra.
Tuy nhiên, do nguồn nguy hiểm cao đô mang đặc điểm tiém ẩn kha năng gây ra thiệt hai bat ngờ nên người quản lý hợp pháp dù đang quản lý chất chế cũng khó có thể ngặn chăn được khả năng gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ. Các tiêu chi xác định nguén nguy hiểm cao độ gây thigt hai Cũng ging như Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 601 Bộ luật dan sự năm 2015 đã xác định tai sản nào lả nguén nguy hiểm cao độ. Nghia Ja, các loại tai sản được coi la nguồn nguy hiểm cao độ đã được định vị cụ thé trong Bộ luật dan sự và các văn bản pháp lý có liên quan. Tuy nhiên, thực tế cho thay, tai thời điểm xảy ra thiệt hai, nguén nguy hiểm cao độ có thé dang được vận hảnh bi một chủ thể nhất định (ví dụ, 6 tô đang được chủ sở hữu lái di chuyển trên đường).
Nhưng nếu do hành vi sử dụng nguồn nguy hiểm. cao độ mà bat cn nên đã gây ra thiệt hại thi phải sic định đó là thiệt hai do người sử dung nguén nguy hiểm cao độ gây ra, tức là thiệt hại do hành vi gây ra vả người thực hiện hảnh vi có thể có lỗi cổ ý (cố tình lái xe lao vào người khác) hoặc có lỗi võ ý (vừa lái xe vừa nghe điện thoại). Do đó, cần phải phan biệt những trường hợp thiệt hai do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với thiệt hai do hành vi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại. Sự phân biệt nay nhằm sắc định nguyên nhân đến thiệt hai.