Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là khái niệm có nội hàm rộng, thể hiện sức người được sử dụng trong lao động sản xuất, là thành phần cơ bản tạo lên giá trị cốt lõi nhất của một tổ chức. Trong thời đại ngày nay, ở một tổ chức, nhất là ở một doanh nghiệp, các yếu tố cấu thành như: vốn, máy móc thiết bị, công nghệ, con người,. thì vốn có thể huy động, vay được từ rất nhiều ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác nhau; máy móc, thiết bị, công nghệ là bình đẳng giữa các công ty trên toàn cầu trong thế giới phẳng (chuyển giao công nghệ trong và ngoài nước), một yếu tố còn lại duy nhất tạo nên sự hùng mạnh, sự khác biệt của một cơ quan chính là yếu tố con người - chất lượng nhân lực của tổ chức.
Vì vậy, muốn tổ chức phát triển nhanh, bền vững thì cần phải chú trọng đặc biệt tới việc phát triển nguồn nhân lực của tổ chức. Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào một quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lực vật chất (Physical Resources), nguồn lực tài chính (Financial Resources). Theo Begg Fischer & Donbusch (1995) nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn con người con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập cao cho tương lai. Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là toàn bộ dân cư có khả năng lao động, bao gồm cả người muốn lao động và không muốn lao động.
Theo nghĩa hẹp và có thể lượng hoá được là một bộ phận của dân số bao gồm nhiều người trong độ tuổi quy đinh, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là Luan van 17 lực lượng lao động. Số lượng nguồn nhân lực được xác định dựa trên qui mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số. Ở nước ta, số lượng lao động trong độ tuổi lao động (nhân lực) được xác định bao gồm những người trong độ tuổi lao động (Nam từ 16 - 60, nữ từ 16 -55) đang có việc hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Muốn phát triển nguồn nhân lực, gia tăng thêm các giá trị sử dụng con người thì tất yếu phải quan tâm đến mục tiêu phát triển con người, gia tăng thêm các giá trị về chính trị, đạo đức, trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ.Trong nguồn nhân lực, Đảng ta luôn quan tâm đến nguồn nhân lực chất lượng cao, coi nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao trước hết phải chú ý vai trò giáo dục. Nguồn nhân lực có hai cách hiểu, tùy thuộc vào hoàn cảnh. Cách hiểu thứ nhất được bắt nguồn từ lĩnh vực kinh tế học và kinh tế chính trị và theo truyền thống thường được gọi là lao động, với tư cách như là một trong bốn nhân tố sản xuất. Cách hiểu thứ hai được sử dụng phổ biến hơn trong cấp độ cụ thể của các tổ chức doanh nghiệp và thuật ngữ này dùng để đề cập đến cá nhân trong các tổ chức và các công việc liên quan đến tuyển dụng, sa thải, đào tạo và các vấn đề nhân sự khác.
Harbison 1973 nguồn nhân lực là sức lực, kỹ năng, tài năng và tri thức của những người trực tiếp tham gia hoặc có tiềm năng tham gia vào sản xuất và sản xuất ra sản phẩm hoặc thực hiện những dịch vụ hữu ích. Từ những nghiên cứu trên có thể quan niệm: nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước, một địa phương hay một tổ chức Luan van 18 được thể hiện ở cơ cấu, trạng thái thể lực, trí lực, trình độ văn hóa, năng lực chuyên môn, phong cách, phẩm chất chính trị, đạo đức của đội ngũ lao động để tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Khái niệm bồi dưỡng nguồn nhân lực Bồi dưỡng là một thuật ngữ hiện nay được sử dụng khá nhiều trong giáo dục như: bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng nâng cao, bồi dưỡng nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.Có nơi, có lúc chúng ta còn dùng thuật ngữ bồi dưỡng dưới tên gọi tái đào tạo, đào tạo lại. Khái niệm bồi dưỡng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt [53, tr.191] cho rằng: “Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn”. Còn tác giả Nguyễn Minh Đường quan niệm: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ”. Trong bài quản lí nhân sự trong giáo dục, đào tạo, tác giả Mạc Văn Trang có nêu: “Bồi dưỡng là nâng cao trình độ về kiến thức và kỹ năng lên một bước mới”. Unesco định nghĩa: Bồi dưỡng có nghĩa là nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp. Như vậy, các quan niệm trên đều cho rằng bồi dưỡng là làm cho tăng thêm trình độ, năng lực hoặc phẩm chất, sức khoẻ với nhiều hình thức, mức độ khác nhau. Bồi dưỡng không đòi hỏi chặt chẽ chính qui như đào tạo và được thực hiện trong thời gian ngắn. Đối tượng bồi dưỡng là người lao động đã được đào tạo và đã có trình độ chuyên môn nhất định.
Từ nghiên cứu những quan niệm, định nghĩa về bồi dưỡng nguồn nhân lực trên, chúng tôi quan niệm bồi dưỡng nguồn nhân lực là quá trình bổ sung Luan van 19 kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp, rèn luyện trí lực, thể lực và phẩm chất chính trị đạo đức, nhằm chuyển hoá, tiến tới đạt chuẩn về chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hoạt động chuyên môn. Mục đích bồi dưỡng nguồn nhân lực ở Ban Quản lý đầu tư – xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm là bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ, năng lực quản lý và hoạt động nghề nghiệp chuyên môn, rèn luyện những phẩm chất chuyên môn nghề nghiệp và chính trị đạo đức cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Ban Quản lý. Đối với quá trình bồi dưỡng nguồn nhân lực ở Ban Quản lý đầu tư - xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm thì chủ thể tiến hành hoạt động bồi dưỡng nguồn nhân lực là bộ máy lãnh đạo của Ban Quản lý. Cụ thể là Đảng uỷ, Lãnh đạo Ban.
mỗi chủ thể của quá trình bồi dưỡng nguồn nhân lực có chức năng, nhiệm vụ cụ thể, với nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng nhất định. Cấp ủy đảng, chi ủy, chi bộ có nhiệm vụ lãnh đạo mọi mặt hoạt động bồi dưỡng của Ban Quản lý thông qua việc ra nghị quyết, xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo đúng đắn, phân công nhiệm vụ cho các cấp ủy viên và kiểm tra, đánh giá việc tổ chức thực hiện của cá nhân và tập thể. Ban Quản lý căn cứ vào nghị quyết, chủ trương của đảng ủy để tổ chức, điều hành quá trình bồi dưỡng, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch và hoạt động bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong Ban Quản lý. Ban Quản lý phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Ban Quản lý tự bồi dưỡng, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.
Đối tượng bồi dưỡng là những cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn Ban Quản lý đầu tư - xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Đồng thời họ cũng chính là chủ thể của hoạt động bồi dưỡng. Quá trình bồi dưỡng chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi đối tượng bồi dưỡng ý thức được Luan van 20 vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng, biến quá trình bồi dưỡng thành tự bồi dưỡng. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong Ban Quản lý tùy theo chức trách, nhiệm vụ mà có những yêu cầu nội dung bồi dưỡng ở các cấp độ khác nhau.
Nội dung bồi dưỡng là tổng hợp các kiến thức về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, pháp luật, và kỹ năng, kỹ xảo về chuyên môn nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực, sức khoẻ cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong Ban Quản lý. Nội dung bồi dưỡng hướng vào hoàn thiện và phát triển những phẩm chất, nhân cách và trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân, viên chức và người lao động trong Ban Quản lý. Hình thức, phương pháp bồi dưỡng được thực hiện một cách đa dạng phong phú như: bồi dưỡng đinh kỳ, bồi dưỡng đột xuất, bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng theo nhóm, kết hợp bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn,. Phương pháp bồi dưỡng: phương pháp lên lớp; giảng bài theo chuyên đề, tổ chức các hoạt động hội thao, hội thảo, tham quan … 1.
Khái niệm tổ chức hoạt động bồi dưỡng nguồn nhân lực Theo Từ điển Tiếng Việt tổ chức là "Làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất" [53, tr. Tổ chức là hoạt động có kế hoạch, gồm nhiều các tác động quản lý, các lực lượng thực hiện, các điều kiện phương tiện bảo đảm cho việc thực hiện. Tổ chức hoạt động bồi dưỡng NNL diễn ra trong Ban Quản lý đầu tư - xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm nhằm bảo đảm yêu cầu về chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu quản lý, xây dựng đầu tư và phát triển lâu dài của đơn vị và nó diễn ra thường xuyên trong suốt 20 năm tồn tại theo kế hoạch của Ban Quản lý.