CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực toán học và năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học Toán 1. Năng lực toán học 1. Năng lực a) Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia”.
Năng lực là một vấn đề khá trừu tượng, khái niệm năng lực thu hút rất nhiều sự quan tâm các nhà nghiên cứu. Năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, phần lớn các định nghĩa về năng lực trong tài liệu nước ngoài đều quy năng lực vào phạm trù khả năng: - Năng lực (Capacity/Ability): Hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng (hoặc tiềm năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định. - Năng lực (Compentence): Thường gọi là năng lực hành động, là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động. - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thế giới (OECD) quan niệm năng lực: Khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể [4], [24].
Weinert [25]: Năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp. Giáo dục Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực. Vì vậy khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu: 8 - Theo từ điển Bách khoa Việt Nam [22]: Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo, tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó. - Theo từ điển Tiếng Việt [18]: Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.
- Theo Nguyễn Công Khanh [13]: Năng lực của học sinh phổ thông không chỉ là khả năng tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức, kĩ năng học được…, mà quan trọng là khả năng hành động, ứng dụng, vận dụng tri thức, kĩ năng này để giải quyết vấn đề của chính cuộc sống đang đặt ra với các em. - Theo chương trình giáo dục phổ thông mới [5]: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động, tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Khái quát lại năng lực có thể hiểu là sự kết hợp của kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thái độ và hành vi của một cá nhân để thực hiện một công việc có hiệu quả. Năng lực bao gồm cả khả năng chuyển tải kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm và thói quen làm việc vào các tình huống cụ toán thể.
Đồng thời, năng lực còn liên quan đến khả năng phán đoán, nhận thức, hứng thú, niềm tin, ý chí và tình cảm. Năng lực tồn tại và phát triển thông qua hoạt động. Quá trình hình thành năng lực phải gắn với luyện tập, thực hành và trải nghiệm các công việc thuộc ngành nghề nào đó và bảo đảm thực hiện có hiệu quả. b) Cấu trúc của năng lực - Năng lực chia làm ba mức độ: 9 + Mức độ thứ nhất là năng lực cơ bản.
Đó là khả năng của một cá nhân ở một thời điểm nào đó có thể hoàn thành một nhiệm vụ nào đó mà nhiều người khác có cùng điều kiện hoàn cảnh cũng có thể thực hiện được. Ví dụ như một học sinh lớp 11 phát hiện ra sự khác nhau giữa quy tắc cộng và quy tắc nhân, đồng thời trong lớp cũng có nhiều học sinh khác phát hiện ra điều này thì ta có thể xem học sinh đó có năng lực cơ bản. + Mức độ thứ hai là tài năng. Đó là khả năng của cá nhân có thể hoàn thành một nhiệm vụ nào đó một cách sáng tạo nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ hoặc không vượt quá xa những thành tựu của xã hội tại thời điểm đó.
Ví dụ một học sinh lớp 10 có thể viết chương trình mới có ứng dụng vào Toán học có thể coi là một tài năng Toán học. + Mức độ cao nhất của năng lực là thiên tài. Đó là một năng lực đặc biệt mà kết quả của sự hoạt động vượt xa thành tựu của xã hội và mang ý nghĩa lịch sử đối với loài người. Ví dụ như Pythagoras, nhà toán học, triết học, khoa học người Hy Lạp nổi danh trong thời cổ đại.
Ông là thiên tài toán học xuất chúng trong lịch sử. Với định lý nổi tiếng mang tên ông "Trong tam giác vuông, bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông" được coi là tiền đề cơ bản trong hình học và giúp ông nổi danh khắp thế giới. - Theo quan điểm các nhà sư phạm nghề Đức, cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của bốn năng lực thành phần: + Năng lực cá thể (Individual competency): Khả năng xác định, suy nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của mình, phát triển được năng khiếu cá nhân cũng như xây dựng kế hoạch cho cuộc sống riêng và hiện thực hoá kế hoạch đó, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các hành vi ứng xử. 10 + Năng lực chuyên môn (Professional competency): Khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn (bao gồm cả khả năng tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp và trừu tượng, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình).
+ Năng lực phương pháp (Methodical competency): Khả năng hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Trung tâm của năng lực phương pháp là những phương thức nhận thức, xử lý, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận - giải quyết vấn đề. + Năng lực xã hội (Socical competency): Khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
Trọng tâm là: Ý thức được trách nhiệm của bản thân cũng như của những người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức. Có khả năng thực hiện các hoạt động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung đột. - Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [5] hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau: + Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. + Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất.
Năng lực toán học a) Khái niệm năng lực toán học Năng lực toán học là một loại hình năng lực chuyên môn, gắn liền với môn học. Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực toán học: - Theo Niss [23]: Năng lực toán học như khả năng của cá nhân để sử dụng các khái niệm toán học trong một loạt các tình huống có liên quan đến toán học, kể cả các lĩnh vực bên trong hay bên ngoài của toán học. Niss cũng xác định tám thành tố của năng lực toán học và chia thành hai cụm. Cụm thứ nhất bao gồm: năng lực tư duy toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực suy luận toán học.
Cụm thứ hai bao gồm: năng lực biểu diễn; năng lực sử dụng ngôn ngữ và kí hiệu hình thức; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện toán học. Tám năng lực đó tập trung vào những gì cần thiết để cá nhân có thể học tập và ứng dụng toán học. Các năng lực này không hoàn toàn độc lập mà liên quan chặt chẽ và có phần giao thoa với nhau. - Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu [6]: Năng lực Toán học là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức Toán trong cuộc sống; khả năng vận dụng tư duy Toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt; khả năng phân tích, suy luận, lập luận khái quát hóa, trao đổi thông tin một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề Toán học trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau.
- Theo [1]: Năng lực toán học là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng về môn Toán và các thuộc tính cá nhân khác nhau như hứng thú, niềm tin, ý chí. Năng lực toán học bao gồm các năng lực thành phần: 12 + Năng lực thu thập và xử lí thông tin toán học: thu thập được các kiến thức, thông tin có liên quan đến toán học, xử lí được thông tin và nhớ các khái niệm, công thức, định lí, quy tắc… trong môn Toán. + Năng lực tính toán, giải toán (thực hiện các phép toán bằng số và cả biến đổi các biến đổi các biểu thức đại số). + Năng lực tư duy toán học (khả năng phân tích, tổng hợp, lập luận logic, phản biện và sáng tạo).