đặt vấn đề về việc tuân thủ các cam kết quốc tế,23 ví dụ như vụ việc liên quan đến lệnh cấm nhập khẩu nội tạng (sau đó lệnh cấm này đã được Việt Nam dỡ bỏ).24 Câu hỏi đặt ra là có phải việc áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu là vi phạm cam kết WTO hay không? Có phải gia nhập WTO thì Việt Nam phải xóa bỏ thuế quan và các biện pháp phi thuế quan đối với tất cả hàng hóa (trong đó có thực phẩm) dù cho các sản phẩm này có thể mang lại rủi ro cho sức khỏe người tiêu dùng trong nước? Đây là những vấn đề hầu như chưa được nghiên cứu đầy đủ tại Việt Nam. Mặc dù chưa có số liệu thống kê về mối liên hệ giữa tình trạng mất an toàn thực phẩm ở Việt Nam với thực phẩm nhập khẩu, nhưng với khối lượng lớn thực phẩm nhập khẩu cùng với các bệnh liên quan đến thực phẩm (như được đề cập ở trên), thực phẩm nhập khẩu không an toàn có thể được xem là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên. Chính vì vậy, để đảm bảo an toàn thực phẩm, Chính phủ Việt Nam cần ban hành các quy định nhằm kiểm soát an toàn thực phẩm nhập khẩu. Những hậu quả đối với sức khỏe con người từ thực phẩm không an toàn nhiều khi phải mất rất nhiều thời gian để có thể được phát hiện, nếu đến khi phát hiện mới có hành động thì có thể đã quá muộn.
WTO là tổ chức thương mại lớn nhất hiện nay với 164 thành viên.25 Mục đích lớn nhất của tổ chức này là thực hiện tự do hóa thương mại.26 Vì vậy, WTO đóng 21 Gạo giả, dầu ăn từ rác thải, đậu phụ nhiễm độc tố …của Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, trong về thị trường hàng hóa nhập khẩu 9 tháng năm 2018, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 47,1 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2017.aspx?tabid=621&ItemID=18957, truy cập ngày 18/04/2023). 22 Xem World Bank (2016), Report: Vietnam Food Safety Risks Management: Challenges and Opportunities, tr. 23 Trong đợt rà soát chính sách thương mại Việt Nam năm 2021 : “Hoa Kỳ lo ngại về các biện pháp SPS do Việt Nam duy trì nhằm hạn chế thương mại.
Chúng tôi đã đặt ra một số câu hỏi về an toàn thực phẩm, kiểm tra trước và sau thông quan, sức khỏe động vật, giới hạn dư lượng tối đa, thuốc trừ sâu, cũng như đánh giá rủi ro và đề xuất cấm nội địa đối với glyphosate. Chúng tôi mong nhận được và xem xét các phản hồi của Việt Nam. Như trường hợp của TPR trước đây, Hoa Kỳ tiếp tục khuyến khích Việt Nam cung cấp các thông báo theo yêu cầu của Hiệp định SPS ở giai đoạn đầu để đảm bảo một khoảng thời gian hợp lý cho việc xem xét các ý kiến trước khi hoàn thiện luật và thực hiện các quy định. Chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc Việt Nam phản hồi các ý kiến chính thức do Hoa Kỳ đệ trình”.
24 Sau gần 3 năm cấm nhập khẩu nội tạng, Công văn số 2408/BN-TY (ngày 20/07/2013) cho phép nhập khẩu trở lại nội tạng trắng từ ngày 01/09/2013.org/english/thewto_e/whatis_e/tif_e/org6_e.htm, truy cập ngày 18/04/2023. luan an 6 một vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách của quốc gia, trong đó có Việt Nam, khi nước ta đã trở thành thành viên của tổ chức này.27 Mặc dù mục tiêu lớn nhất của WTO là thúc đẩy thương mại tự do, nhưng bên cạnh đó WTO vẫn có những quy định đảm bảo quyền được bảo vệ sức khỏe của con người. Những quy định này nằm rải rác, gián tiếp trong nhiều hiệp định của WTO, nhưng tập trung nhất trong Hiệp định SPS. Đồng thời, Hiệp định SPS cố gắng đảm bảo rằng các quy định bảo vệ sức khỏe, vệ sinh an toàn thực phẩm được thực thi ở cấp quốc gia không trở thành các rào cản không cần thiết đối với thương mại.
Theo Hiệp định SPS, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm, dịch tễ là các biện pháp được áp dụng nhằm bảo vệ cuộc sống, sức khỏe con người, động, thực vật khi đáp ứng yêu cầu chống lại 1 trong 2 rủi ro đó là: (1) rủi ro “ngộ độc thực phẩm” (food-borne) hoặc (2) rủi ro liên quan đến bệnh tật hoặc sâu bệnh của động, thực vật.28 Hệ thống các quy tắc và quy định của Hiệp định SPS nhìn chung khá phức tạp và mang tính kỹ thuật cao, vì vậy nếu muốn áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm bảo vệ cuộc sống, sức khỏe con người một các hiệu quả, không bị khiếu nại tại WTO… Thành viên WTO cần phải nắm rõ yêu cầu của những quy định liên quan cũng như thực tiễn quốc tế đối với thực thi các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm. Luận án tập trung vào việc phân tích những quy định về các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe con người theo quy định Luật WTO, cụ thể là theo Hiệp định SPS. Một cơ chế kiểm soát thực phẩm chặt chẽ trong thương mại quốc tế là rất cần thiết trong việc đảm bảo sức khỏe con người. Mặc dù việc kiểm soát thực phẩm liên quan đến cả thực phẩm xuất khẩu và nhập khẩu, tuy nhiên trong phạm vi Luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu việc áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến nhập khẩu thực phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe của công dân của các Thành viên WTO.
Nghiên cứu về các quy định của WTO (cụ thể là Hiệp định SPS của WTO) đối với các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm, học tập kinh nghiệm của các nước trong việc vận dụng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm để quản lý thực phẩm nhập khẩu nhằm bảo vệ sức khỏe, cuộc sống con người mà không vi phạm các quy định WTO là rất cần thiết cho Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. 26 Lời nói đầu, Hiệp định Marrakesh. 27 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên 150 của WTO vào ngày 11/01/2007.org/english/thewto_e/countries_e/vietnam_e.htm, truy cập ngày 18/04/2023). 28 Phụ lục A, Hiệp định SPS.
Vấn đề này cũng đã được phân tích bởi Ban hội thẩm trong vụ tranh chấp Úc – Các biện pháp tác động đến cá hồi nhập khẩu (WT/DS18/R), đoạn 8. AB cũng đã đồng ý với lập luận của Ban hội thẩm. luan an 7 Nghiên cứu các vấn đề này sẽ góp phần tìm ra các giải pháp pháp lý nhằm xây dựng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm đảm bảo mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người nhưng không vi phạm luật WTO. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của tổ chức thương mại thế giới - Những vấn đề pháp lý đặt ra đối với Việt Nam” làm Luận án tiến sĩ Luật học.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm rõ những vấn đề lý luận đối với biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của WTO (cụ thể là Hiệp định SPS), kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc áp dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm để vừa có thể bảo vệ sức khỏe con người trước thực phẩm nhập khẩu vừa không vi phạm quy định WTO. Phân tích hệ thống quy phạm pháp luật và cơ chế quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam, đặc biệt làm rõ những bất cập của pháp luật Việt Nam trong việc quy định biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm.Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam, tạo cơ sở cho việc sử dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm vừa phù hợp cam kết quốc tế của Việt Nam trong WTO vừa có thể bảo vệ sức khỏe của công dân mình trước thực phẩm nhập khẩu. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: Thứ nhất, phân tích các quy định của WTO (cụ thể là Hiệp định SPS), tạo cơ sở cho việc xây dựng, ban hành, duy trì biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm, cũng như thực tiễn áp dụng các quy định đó thông qua một số phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp của tổ chức này, qua đó đánh giá khả năng bảo vệ sức khỏe con người của các quy định này.
Từ đó, Luận án làm rõ những vấn đề lý luận đối với biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm. Thứ hai, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn vận dụng các quy định có liên quan đến việc áp dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm, đối chiếu với các quy định tương ứng của WTO và so sánh với một số quy định liên quan trong pháp luật một số quốc gia tiêu biểu. luan an 8 Thứ ba, đề xuất những giải pháp pháp lý để Việt Nam có thể tối đa hóa việc bảo vệ sức khỏe con người với tư cách là thành viên WTO trong việc sử dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của Luận án là biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm theo Hiệp định SPS của WTO, việc áp dụng Hiệp định SPS khi ban hành các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm được các thành viên WTO áp dụng trong thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu vừa đảm bảo sức khỏe con người vừa không vi phạm các quy định của WTO. Luận án tập trung nghiên cứu về những quy định nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm nhập khẩu. Đảm bảo quy định vệ sinh an toàn thực phẩm khi xuất khẩu đến các quốc gia khác không phải đối tượng nghiên cứu của Luận án này. Việc tìm hiểu những vấn đề pháp lý nêu trên có vai trò rất quan trọng đối với Việt Nam.
Vì vậy Luận án nghiên cứu việc ban hành, áp dụng biện pháp an toàn thực phẩm tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam, tạo cơ sở cho việc sử dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm vừa phù hợp cam kết quốc tế của Việt Nam trong WTO vừa có thể bảo vệ sức khỏe của công dân mình trước thực phẩm nhập khẩu. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung, như đã nêu ở trên, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm trong khuôn khổ WTO, cụ thể là Hiệp định SPS.