Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của Tổ chức thương mại thế giới - Những vấn đề pháp lý đặt ra đối với Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Việt Dũng, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023, thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số: 9380107).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng quá trình toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại đã thúc đẩy mạnh mẽ các chuỗi cung ứng thực phẩm xuyên biên giới, nhưng đồng thời tạo ra rủi ro nghiêm trọng đối với sức khỏe và tính mạng con người. Dẫn số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm toàn cầu có khoảng 600 triệu người (tương đương 1/10 dân số) mắc bệnh do tiêu thụ thực phẩm không an toàn, khiến 420.000 ca tử vong và làm mất đi 33 triệu năm sống khỏe mạnh. Thiệt hại kinh tế tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình ước tính lên tới 110 tỷ USD mỗi năm do sụt giảm năng suất lao động và chi phí y tế.
Tại Việt Nam, cùng với sự gia tăng nhập khẩu thực phẩm, tình hình ngộ độc thực phẩm diễn biến phức tạp. Theo Cục An toàn thực phẩm và Tổng cục Thống kê, trong 10 tháng đầu năm 2015, cả nước ghi nhận 150 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.077 người mắc và 21 trường hợp tử vong; từ tháng 12/2016 đến tháng 10/2017 xảy ra 93 vụ ngộ độc nghiêm trọng làm 2.874 người mắc và 20 người tử vong; năm 2018 xảy ra 84 vụ với 3.174 người ngộ độc và 11 ca tử vong; 10 tháng đầu năm 2019 xảy ra 58 vụ với 1.668 người mắc và 9 ca tử vong. Báo cáo của Kees van der Meer và Laura L. Ignacio ước tính chi phí thường niên để khắc phục hậu quả bệnh tật từ thực phẩm không an toàn tại Việt Nam vượt quá 450 triệu USD.
Khối lượng thực phẩm nhập khẩu vào Việt Nam tăng trưởng nhanh: năm 2021, nhập khẩu đậu tương đạt 2,02 triệu tấn (1,18 tỷ USD), lúa mỳ đạt 4,68 triệu tấn (1,38 tỷ USD); năm 2019 nhập khẩu ngô đạt 11,5 triệu tấn (2,3 tỷ USD), rau quả đạt 1,78 tỷ USD; năm 2018 nhập khẩu thủy sản đạt 1,72 tỷ USD; năm 2017 nhập khẩu hạt điều đạt 2.574 triệu USD, rau quả đạt 1.548 triệu USD, thủy sản đạt 1.441 triệu USD và sữa đạt 940 triệu USD. Các nguy cơ từ thực phẩm biến đổi gen, tồn dư kháng sinh hay vụ bê bối sữa bột nhiễm Melamine năm 2008 từ Trung Quốc (khiến gần 300.000 trẻ em mắc bệnh, hơn 50.000 trẻ nhập viện và 6 ca tử vong, lan rộng tới 46 quốc gia) cho thấy áp lực quản lý biên giới là rất lớn. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Việt Nam thời gian qua chủ yếu tập trung tìm cách vượt qua rào cản kỹ thuật của nước ngoài nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản, mà chưa quan tâm đúng mức đến việc nghiên cứu, vận dụng quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) để thiết lập các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) hợp pháp nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng trong nước trước hàng hóa nhập khẩu.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận về biện pháp SPS theo Hiệp định SPS của WTO; phân tích kinh nghiệm áp dụng của Liên minh châu Âu (EU) và Ấn Độ; rà soát, đánh giá các bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy phạm pháp luật trong nước nhằm bảo vệ sức khỏe công dân trước thực phẩm nhập khẩu mà không vi phạm cam kết quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 3 nội dung:
- Phân tích các quy định của WTO (trọng tâm là Hiệp định SPS) điều chỉnh việc ban hành, duy trì biện pháp SPS và thực tiễn qua phán quyết của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) để làm rõ vấn đề lý luận;
- Phân tích quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, đối chiếu với tiêu chuẩn WTO và so sánh với hệ thống pháp lý của Ấn Độ và EU;
- Đề xuất các giải pháp pháp lý cụ thể nhằm giúp Việt Nam tối đa hóa hiệu quả bảo vệ sức khỏe con người phù hợp với cam kết thành viên WTO.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm:
- Câu hỏi tổng quát: Làm thế nào để Việt Nam áp dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm để đạt mục tiêu tự do hóa thương mại, đồng thời bảo vệ sức khỏe con người trước thực phẩm nhập khẩu phù hợp với quy định của WTO?
- Câu hỏi cụ thể số 1: Cách thức áp dụng quy định bằng chứng khoa học khi xây dựng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm để vừa có thể bảo vệ sức khỏe con người trước thực phẩm nhập khẩu không an toàn vừa không vi phạm luật WTO?
- Câu hỏi cụ thể số 2: Ý nghĩa của quy định thúc đẩy hài hòa hóa khi áp dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm?
- Câu hỏi cụ thể số 3: Việt Nam nên vận dụng những quy định về mặt thủ tục như thế nào khi áp dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm để vừa có thể bảo vệ sức khỏe con người trước thực phẩm nhập khẩu không an toàn vừa không vi phạm luật WTO?
Đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp lý về biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm theo Hiệp định SPS của WTO, thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan tại WTO, cùng hệ thống quy phạm và cơ chế thực thi của Việt Nam đối với thực phẩm nhập khẩu. Luận án không nghiên cứu khía cạnh kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào ba nhóm quy phạm trụ cột của Hiệp định SPS gồm yêu cầu về bằng chứng khoa học/đánh giá rủi ro, nghĩa vụ hài hòa hóa tiêu chuẩn và các quy định thủ tục (tính tương đương, điều kiện khu vực, minh bạch hóa). Luận án không đi sâu phân tích các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (EVFTA, CPTPP) do các hiệp định này được xây dựng trên nền tảng nguyên tắc của Hiệp định SPS.
- Về không gian: Nghiên cứu thực tiễn pháp luật Việt Nam, đối chiếu so sánh với EU (đại diện cho nhóm thành viên phát triển có hệ thống kiểm soát toàn diện) và Ấn Độ (đại diện cho nhóm thành viên đang phát triển có bối cảnh tương đồng).
- Về thời gian: Khảo sát các án lệ và văn bản pháp lý từ khi WTO thành lập ngày 01/01/1995, các cam kết gia nhập của Việt Nam từ ngày 11/01/2007 và pháp luật thực định Việt Nam cho đến năm 2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu nước ngoài ghi nhận nhiều công trình phân tích Hiệp định SPS:
- Tuyển tập chuyên khảo của George A. Bermann và Petros C. Mavroidis (2007), Trade and Human Health and Safety, Cambridge University Press, bao gồm bài viết của Marceau Gabrielle và Joel P. Trachtman phân tích mối tương quan thẩm quyền giữa GATT 1994, Hiệp định TBT và Hiệp định SPS; công trình của Robert Howse và Elisabeth Tuerk nghiên cứu án lệ Canada - Asbestos gắn với Điều XX(b) và Điều III GATT 1994; bài viết của William J. Davey mổ xẻ báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm (AB) trong vụ EC - Hormones về nghĩa vụ chứng minh và nguyên tắc phòng ngừa; nghiên cứu của Alan O. Sykes xem xét yêu cầu bằng chứng khoa học dưới góc độ chủ quyền lập quy của quốc gia.
- Các công trình của Lukasz Gruszczynski gồm sách chuyên khảo năm 2012 về tiêu chuẩn xem xét (standard of review) của Ban hội thẩm trong tranh chấp y tế và môi trường; bài báo năm 2011 phân tích vụ tranh chấp Hoa Kỳ - Gia cầm nhập khẩu từ Trung Quốc (DS392) để làm rõ tiêu chí xác định biện pháp SPS dựa vào mục đích; bài báo năm 2008 phân biệt hai khái niệm "đánh giá rủi ro" và "quản lý rủi ro"; bài viết năm 2006 trên Tạp chí Luật Đức về yếu tố khoa học trong đánh giá rủi ro theo Điều 3 và Điều 5 Hiệp định SPS.
- Theofanis Christoforou (2000) trên Tạp chí Luật Môi trường Đại học New York phân tích lịch sử hình thành Hiệp định SPS và giải quyết tranh chấp dựa trên khoa học qua vụ EC - Hormones (DS26).
- Peter van den Bossche, Denise Prévost và Marielle Matthee (2005) trong tài liệu làm việc tại Đại học Maastricht hệ thống hóa các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định SPS (chủ quyền quốc gia, yêu cầu cần thiết, nguyên tắc khoa học, không phân biệt đối xử và hài hòa hóa).
- Các bình luận án lệ chuyên sâu khác của Joanne Scott (2007), Catherine Button (2004) và Joost Pauwelyn (2003) phân tích mức độ can thiệp tư pháp của WTO đối với quyền tự quyết chính sách y tế công cộng.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến biện pháp SPS gồm:
- Sách chuyên khảo của Bộ Thương mại do Đinh Văn Thành chủ biên (2005), Rào cản trong thương mại quốc tế, NXB Lao động - Xã hội, phân loại rào cản phi thuế quan và liệt kê văn bản pháp luật SPS nhằm hỗ trợ xuất khẩu.
- Luận án tiến sĩ luật học của Hà Thị Thanh Bình (2010), Khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, phân tích các biện pháp hạn chế thương mại hàng hóa và trích dẫn quyền áp dụng biện pháp SPS tạm thời khi thiếu bằng chứng khoa học.
- Sách của Nguyễn Hữu Khải chủ biên (2007), Quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, cơ chế, chính sách và biện pháp, NXB Thống kê, phân tích quy chế quản lý thương mại nhưng chỉ tiếp cận SPS ở mức khái quát.
- Sách của Võ Thanh Thu và Ngô Thị Ngọc Huyền (2011), Cẩm nang rào cản thương mại quốc tế đối với mặt hàng nông lâm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, NXB Tổng hợp TP.HCM, cung cấp kiến thức dạng hỏi đáp về hàng rào thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu.
- Giáo trình của Mai Hồng Quỳ và Trần Việt Dũng (2012), Luật thương mại quốc tế, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, giới thiệu tổng quan về các loại rào cản kỹ thuật.
- Sách của Phạm Thị Hồng Yến (2011), An toàn thực phẩm và việc thực thi hiệp định SPS/WTO: Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp đối với Việt Nam, NXB Thông tin và Truyền thông, liệt kê các nguyên tắc SPS và dẫn chiếu kinh nghiệm lập pháp tại EU, Nhật Bản, Trung Quốc.
- Kỷ yếu hội thảo của VCCI, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013) về hệ thống SPS tại các nước EFTA; kỷ yếu hội thảo của Đại học Luật TP.HCM (2016) về khía cạnh pháp lý an toàn thực phẩm.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các tài liệu trong nước tiếp cận Hiệp định SPS dưới góc độ coi đây là các rào cản thương mại cần vượt qua để đẩy mạnh xuất khẩu nông lâm thủy sản. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về việc sử dụng các quyền và ngoại lệ mà Hiệp định SPS cho phép để thiết kế khuôn khổ pháp lý quốc nội nhằm kiểm soát thực phẩm nhập khẩu, bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam mà vẫn bảo đảm tính tương thích với luật WTO.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên hệ quy chiếu lý thuyết đa tầng:
- Các học thuyết về tự do hóa thương mại: Luận án sử dụng học thuyết "lợi thế tuyệt đối" của Adam Smith (1776, An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) và học thuyết "lợi thế tương đối" của David Ricardo (1821, On the Principles of Political Economy and Taxation) làm nền tảng giải thích tính tất yếu của phân công lao động quốc tế, thương mại tự do và sự hình thành các định chế thương mại đa phương như WTO.
- Lý thuyết về quyền phát triển: Luận điểm của José Zalaquette (1984), Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Quyền phát triển năm 1986, Tuyên bố Viên và Chương trình hành động năm 1993, cùng văn kiện E/CN.2/2005/23 của Florizelle O'Connor (2005) được luận án sử dụng để khẳng định sự phát triển bền vững không thể đánh đổi tính mạng, sức khỏe của con người lấy tăng trưởng kinh tế thuần túy. Hiệp định SPS được xem là công cụ dung hòa giữa tự do hóa thương mại và quyền tiếp cận thực phẩm an toàn của người dân.
- Các lý thuyết về lập quy (theories of regulation):
- Lý thuyết lợi ích công về lập quy (Priest 1993, Ogus 2004) lập luận rằng thị trường tự do thất bại trong việc tự điều tiết an toàn thực phẩm do hiện tượng bất cân xứng thông tin giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất; sự can thiệp của nhà nước thông qua các hàng rào kỹ thuật SPS là cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng.
- Lý thuyết lợi ích tư về lập quy của Posner (1974) và lý thuyết sự lựa chọn công chúng của Romer và Rosenthal (1987), Noll (1989), Levine và Forrence (1990) được sử dụng để phân tích và kiểm soát nguy cơ các nhóm lợi ích sử dụng biện pháp an toàn thực phẩm như một hình thức bảo hộ thương mại trá hình.
- Học thuyết tiếp nhận pháp lý (legal transplant): Làm cơ sở tham khảo có chọn lọc mô hình pháp luật về SPS của EU và Ấn Độ vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu của luận án là phương pháp nghiên cứu định tính trong khoa học pháp lý, bao gồm:
- Phương pháp phân tích và giải thích quy phạm pháp luật: Mổ xẻ các điều khoản của Hiệp định SPS, Hiệp định GATT 1994, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và các văn bản dưới luật của Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu án lệ (case-law analysis): Phân tích lập luận và kết luận pháp lý của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm WTO qua các vụ việc điển hình (EC - Hormones, Japan - Agricultural Products II, Japan - Apples, Australia - Salmon, EC - Biotech).
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định của Việt Nam với các chuẩn mực của WTO, đồng thời so sánh quy định kiểm soát thực phẩm nhập khẩu của Việt Nam với hệ sinh thái pháp lý của EU và Ấn Độ.
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic học: Đánh giá quá trình tiến triển của các án lệ và mức độ hoàn thiện của hệ thống quy chuẩn kỹ thuật an toàn thực phẩm.
Nguồn tư liệu, dữ liệu:
- Văn bản pháp lý quốc tế: Các văn kiện chính thức của WTO, các hiệp định thuộc Phụ lục 1A (SPS, TBT, GATT 1994), báo cáo giải quyết tranh chấp của DSB (Panel Reports, Appellate Body Reports); các tiêu chuẩn, hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Codex (CAC), Tổ chức Thú y Thế giới (OIE/WOAH), Ban thư ký Công ước Bảo vệ Thực vật Quốc tế (IPPC).
- Văn bản pháp luật quốc gia: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, Ấn Độ và các chỉ thị, quy định của Liên minh châu Âu (EC/EFSA).
- Dữ liệu thống kê: Báo cáo xuất nhập khẩu thường niên của Bộ Công Thương, Niêm giám thống kê của Tổng cục Hải quan, dữ liệu về vụ việc ngộ độc thực phẩm của Tổng cục Thống kê và Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), báo cáo chuyên đề của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này thiết lập cơ sở lý luận ban đầu, làm rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ xung đột giữa một bên là xu thế tự do hóa thương mại làm gia tăng nhập khẩu thực phẩm và một bên là yêu cầu cấp bách bảo vệ sức khỏe cộng đồng trước các rủi ro ngộ độc và lây lan dịch bệnh. Tác giả xác lập hệ thống mục tiêu, 3 nhiệm vụ nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi đối tượng và khung lý thuyết nền tảng (học thuyết thương mại, quyền phát triển, các lý thuyết lập quy và tiếp nhận pháp lý). Chương 1 cũng điểm luận toàn diện tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế để làm nổi bật khoảng trống pháp lý mà luận án hướng tới giải quyết.
Chương 2: Bảo đảm bằng chứng khoa học khi ban hành, áp dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm
Chương 2 tập trung phân tích nghĩa vụ căn bản tại Điều 2.2 và Điều 5.1 Hiệp định SPS. Theo Điều 2.2, các thành viên WTO chỉ được duy trì biện pháp SPS khi có đủ bằng chứng khoa học. Qua các án lệ của WTO, nội hàm pháp lý của nguyên tắc này được cụ thể hóa:
| Vụ tranh chấp tại WTO |
Cơ quan giải quyết |
Luận điểm và chuẩn mực pháp lý xác lập |
| EC - Hormones (DS26, DS48) |
Ban hội thẩm & Cơ quan Phúc thẩm |
Yêu cầu biện pháp SPS phải "dựa trên" đánh giá rủi ro đòi hỏi tồn tại một "mối quan hệ hợp lý" (rational relationship) giữa biện pháp và đánh giá rủi ro. Đánh giá rủi ro phải mang tính cụ thể cho từng chất riêng biệt (như trường hợp hormone MGA). |
| Nhật Bản - Sản phẩm nông nghiệp II (DS76) |
Cơ quan Phúc thẩm |
Thuật ngữ "đầy đủ" (sufficient) trong Điều 2.2 là một khái niệm mang tính quan hệ, đòi hỏi mối liên hệ thích hợp hoặc tương xứng giữa biện pháp SPS và bằng chứng khoa học sẵn có. |
| Nhật Bản - Táo (DS245) |
Ban hội thẩm & Cơ quan Phúc thẩm |
Ban hội thẩm đưa ra bài kiểm tra "cân bằng - hợp lý mạnh" (strong proportionality test), xác định rủi ro lây lan bệnh nấm lửa qua quả táo là không đáng kể, từ đó nhận định các biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt của Nhật Bản là không cân xứng với mức độ rủi ro thực tế. |
| Úc - Cá hồi (Điều 21.5 - Canada) (DS18) |
Ban hội thẩm & Cơ quan Phúc thẩm |
Làm rõ yêu cầu đánh giá rủi ro nhập khẩu (IRA 1999) đối với họ cá hồi và mối quan hệ giữa biện pháp kỹ thuật tại biên giới với khuyến nghị khoa học. |
| EC - Sản phẩm công nghệ sinh học (DS291, DS292, DS293) |
Ban hội thẩm |
Khẳng định yêu cầu "dựa trên" đánh giá rủi ro là điều kiện thực chất chứ không phải thủ tục hình thức; các biện pháp cấm tạm thời không thể bỏ qua các đánh giá khoa học thuận lợi mà không có giải trình thỏa đáng. |
Về quy trình đánh giá rủi ro (Risk Assessment) theo Phụ lục A.4, luận án phân tích quy trình 2 bước đối với rủi ro an toàn thực phẩm: (i) xác định cụ thể tác hại tiềm ẩn đối với sức khỏe con người từ sự hiện diện của chất phụ gia, tạp chất, độc tố hoặc sinh vật gây bệnh; (ii) đánh giá khả năng hoặc xác suất xảy ra tác hại đó trong thực tế. Đồng thời, chương này phân tích nguyên tắc phòng ngừa theo Điều 5.7 Hiệp định SPS cho phép áp dụng biện pháp tạm thời khi thông tin khoa học chưa đầy đủ, đi kèm 4 điều kiện ràng buộc tích lũy: áp dụng trên cơ sở thông tin thích hợp sẵn có; chủ động tìm kiếm thông tin bổ sung; đánh giá lại rủi ro trong khoảng thời gian hợp lý; và rà soát biện pháp tương ứng.
Đối chiếu với Việt Nam, tác giả chỉ ra rằng hệ thống pháp luật an toàn thực phẩm còn thiếu vắng các quy định chi tiết về phương pháp luận và trình tự đánh giá rủi ro khoa học khi ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN). Việc áp dụng biện pháp phòng ngừa tạm thời chưa được luật hóa minh bạch, dẫn đến nguy cơ biện pháp bảo vệ bị đối tác thương mại phản đối hoặc khiếu nại tại WTO.
Chương 3: Hài hòa hóa các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm với tiêu chuẩn quốc tế
Chương 3 đi sâu phân tích nghĩa vụ hài hòa hóa quy định tại Điều 3 Hiệp định SPS nhằm giảm thiểu rào cản thương mại thông qua việc khuyến khích các thành viên sử dụng tiêu chuẩn của ba tổ chức tiêu chuẩn quốc tế có liên quan:
- Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Codex (CAC) đối với an toàn thực phẩm;
- Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) đối với sức khỏe động vật và bệnh truyền lây;
- Ban thư ký Công ước Bảo vệ Thực vật Quốc tế (IPPC) đối với kiểm dịch thực vật.
Luận án phân định ba mức độ hài hòa hóa:
- Biện pháp dựa trên tiêu chuẩn quốc tế (Điều 3.1): Áp dụng tiêu chuẩn quốc tế làm nền tảng xây dựng quy định;
- Biện pháp tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế (Điều 3.2): Được hưởng giả định pháp lý quan trọng là hoàn toàn phù hợp với Hiệp định SPS và Hiệp định GATT 1994;
- Biện pháp duy trì mức bảo vệ cao hơn tiêu chuẩn quốc tế (Điều 3.3): Thành viên có quyền thiết lập mức bảo vệ thích hợp (ALOP) cao hơn nếu có sự biện minh khoa học hoặc dựa trên đánh giá rủi ro theo Điều 5.
Phân tích thực tiễn tại Việt Nam cho thấy nhiều quy chuẩn an toàn thực phẩm và mức giới hạn dư lượng tối đa (MRLs) đối với thuốc trừ sâu, thuốc thú y hiện vẫn ở mức thấp hơn tiêu chuẩn của Codex. Luận án khẳng định việc áp dụng tiêu chuẩn thấp hơn không cấu thành hành vi vi phạm nghĩa vụ của Điều 3 Hiệp định SPS, tuy nhiên điều này tạo ra nguy cơ suy giảm mức độ bảo vệ sức khỏe cho người dân trong nước trước làn sóng thực phẩm nhập khẩu. Thêm vào đó, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất phòng kiểm nghiệm và năng lực chuyên gia để rà soát, hài hòa hóa tiêu chuẩn tại các bộ chuyên ngành (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương) còn hạn chế và phân tán.
Chương 4: Quy định về thủ tục khi ban hành, áp dụng biện pháp vệ sinh, an toàn thực phẩm
Chương 4 xem xét các quy định mang tính thủ tục nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến tính hợp pháp của biện pháp SPS:
- Quy định về tính tương đương (Equivalence - Điều 4): Nghĩa vụ chấp nhận các biện pháp SPS của thành viên xuất khẩu là tương đương nếu nước xuất khẩu chứng minh được biện pháp của họ đạt được mức độ bảo hộ thích hợp của nước nhập khẩu. Luận án phân tích trình tự thỏa thuận, thủ tục thẩm tra công nhận tương đương và các trở ngại đối với nước đang phát triển.
- Quy định về điều kiện khu vực (Regional Conditions - Điều 6): Nghĩa vụ điều chỉnh biện pháp SPS thích ứng với các đặc điểm khu vực xuất xứ và đến của hàng hóa; thủ tục công nhận vùng không có dịch bệnh hoặc vùng có tỷ lệ sâu bệnh thấp (pest- or disease-free areas) theo các hướng dẫn kỹ thuật.
- Quy định về tính minh bạch (Transparency - Điều 7 và Phụ lục B): Bao gồm ba nghĩa vụ cốt lõi: (i) Công bố công khai các quy định SPS ngay khi ban hành và duy trì khoảng thời gian hợp lý (thường tối thiểu 6 tháng) trước khi có hiệu lực để đối tác thích ứng; (ii) Thông báo trước (notification) các dự thảo quy định kỹ thuật mới hoặc sửa đổi qua Ủy ban SPS của WTO nếu quy định chưa có tiêu chuẩn quốc tế hoặc có tác động đáng kể đến thương mại, dành thời gian thích đáng để tiếp nhận ý kiến đóng góp; (iii) Giải thích rõ ràng mục tiêu và lý do của biện pháp khi có yêu cầu từ thành viên khác.
Khảo sát thực tiễn Việt Nam, tác giả dẫn chứng vụ việc cấm nhập khẩu nội tạng động vật giai đoạn 2010–2013 (sau đó dỡ bỏ một phần qua Công văn 2408/BNN-TY) và các câu hỏi chất vấn từ phía Hoa Kỳ trong kỳ Rà soát Chính sách Thương mại (TPR) năm 2021 liên quan đến kiểm tra thông quan, giới hạn dư lượng MRLs, lệnh cấm glyphosate và yêu cầu thông báo SPS sớm. Tác giả kết luận hệ thống thủ tục công bố, thông báo và cơ chế điểm hỏi đáp SPS của Việt Nam cần được kiện toàn để tránh tranh chấp thương mại không cần thiết.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập bốn kết luận mới:
- Về tư duy xây dựng chính sách: Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ban hành quy định an toàn thực phẩm nhằm thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO, chưa chủ động khai thác các quyền tự quyết chính sách và tính linh hoạt mà Hiệp định SPS cho phép để tối ưu hóa việc bảo vệ sức khỏe và tính mạng người tiêu dùng trong nước trước rủi ro từ thực phẩm nhập khẩu.
- Về nghĩa vụ hài hòa hóa tiêu chuẩn: Việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế không cấu thành hành vi vi phạm Hiệp định SPS; tuy nhiên, Việt Nam cần định hướng chiến lược hài hòa hóa theo lộ trình: tiệm cận và "tuân thủ" tiêu chuẩn quốc tế để hưởng giả định phù hợp pháp lý, sau đó từng bước nâng mức bảo hộ cao hơn tiêu chuẩn quốc tế dựa trên luận cứ khoa học độc lập tại các nhóm sản phẩm có rủi ro cao.
- Về tiêu chí bằng chứng khoa học: Các tiêu chí xác định tính "đầy đủ" của bằng chứng khoa học và tính hợp lý của đánh giá rủi ro trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của WTO cho thấy sự linh hoạt nhất định; Việt Nam cần nghiên cứu thấu đáo các chuẩn mực này để chuẩn hóa quy trình đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nội địa.
- Về cơ chế kiểm soát thực phẩm nhập khẩu: Hệ thống pháp luật Việt Nam không thể chỉ trông cậy vào chứng nhận và hệ thống kiểm soát của quốc gia xuất khẩu, mà phải khẩn trương hoàn thiện các quy định SPS chuyên biệt, thiết lập cơ chế kiểm tra biên giới và phân tích rủi ro thực chất đối với thực phẩm nhập khẩu.
Hệ thống giải pháp và kiến nghị được luận án đề xuất bao gồm:
- Sửa đổi, bổ sung Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và các văn bản hướng dẫn: Quy định rõ trình tự, phương pháp đánh giá rủi ro làm căn cứ pháp lý bắt buộc khi ban hành quy chuẩn kỹ thuật; luật hóa điều kiện áp dụng các biện pháp phòng ngừa khẩn cấp/tạm thời phù hợp với Điều 5.7 Hiệp định SPS.
- Nâng cao năng lực khoa học và nguồn lực kiểm định: Đầu tư mạng lưới phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn quốc tế thuộc Cục Thú y (DAH), Cục Bảo vệ thực vật (PPD) và Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD); thành lập hội đồng chuyên gia khoa học độc lập phụ trách đánh giá nguy cơ tương tự mô hình EFSA của châu Âu.
- Hoàn thiện quy chế thủ tục và minh bạch hóa: Ban hành quy trình chuẩn về thẩm định tính tương đương (Điều 4), công nhận vùng an toàn dịch bệnh (Điều 6), và tuân thủ nghiêm ngặt thời hạn thông báo dự thảo SPS (Điều 7) nhằm bảo đảm quyền giải trình chính sách của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung vào biện pháp SPS đối với thực phẩm nhập khẩu nhằm bảo vệ sức khỏe con người, không nghiên cứu chiều kích quản lý an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu. Đồng thời, luận án không phân tích chi tiết các cam kết SPS nâng cao trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA hay RCEP mà tập trung chủ yếu vào khuôn khổ đa phương của WTO.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ luận án là:
- Nghiên cứu cơ chế tương tác và giải quyết xung đột giữa các nghĩa vụ SPS trong khuôn khổ WTO với các chương SPS chuyên sâu trong các FTA thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên;
- Đánh giá tác động pháp lý và kinh tế của việc áp dụng cơ chế công nhận tương đương đối với từng nhóm thực phẩm chế biến cụ thể nhập khẩu vào Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm chủ thể:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Là tài liệu tham khảo cho Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương trong quá trình rà soát, sửa đổi Luật An toàn thực phẩm, xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, và xử lý các chất vấn chính sách thương mại tại Ủy ban SPS của WTO.
- Đối với các cơ quan giải quyết tranh chấp và đại diện thương mại: Hỗ trợ Bộ Tư pháp, các chuyên gia pháp lý xây dựng lập luận phòng vệ trong trường hợp Việt Nam bị thành viên khác khiếu nại liên quan đến rào cản kiểm dịch động thực vật.
- Đối với giới học thuật, nghiên cứu sinh và giảng viên luật: Cung cấp nguồn khảo cứu có hệ thống về phân tích án lệ WTO (vụ EC - Hormones, Japan - Apples, Japan - Agricultural Products II), phương pháp tiếp cận cân bằng giữa tự do hóa thương mại và quyền con người trong luật kinh tế quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
-
Thành viên WTO có quyền áp dụng biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm nghiêm ngặt hơn tiêu chuẩn quốc tế không?
Có. Căn cứ Điều 3.3 Hiệp định SPS, thành viên WTO có quyền đưa ra mức độ bảo vệ an toàn thực phẩm cao hơn tiêu chuẩn quốc tế nếu có sự biện minh khoa học hoặc nếu mức bảo vệ đó dựa trên một đánh giá rủi ro phù hợp với các quy định tại Điều 5 của Hiệp định.
-
Yêu cầu biện pháp an toàn thực phẩm phải "dựa trên" đánh giá rủi ro theo Điều 5.1 Hiệp định SPS được hiểu như thế nào?
Theo báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm trong vụ EC - Hormones, từ "dựa trên" không đồng nghĩa với việc biện pháp phải hoàn toàn "tuân thủ" mọi kết luận, nhưng đòi hỏi phải tồn tại một "mối quan hệ hợp lý" (rational relationship) mang tính khách quan giữa biện pháp SPS được ban hành và kết quả của quá trình đánh giá rủi ro khoa học.
-
Điều kiện để áp dụng biện pháp phòng ngừa tạm thời theo Điều 5.7 Hiệp định SPS là gì?
Thành viên WTO chỉ được áp dụng biện pháp tạm thời khi đáp ứng đủ 4 điều kiện tích lũy: (i) Bằng chứng khoa học liên quan chưa đầy đủ; (ii) Biện pháp được ban hành trên cơ sở các thông tin thích hợp sẵn có; (iii) Thành viên phải chủ động tìm kiếm các thông tin bổ sung cần thiết cho việc đánh giá rủi ro khách quan hơn; và (iv) Phải tiến hành rà soát lại biện pháp đó trong một khoảng thời gian hợp lý.
-
Việc Việt Nam áp dụng mức tiêu chuẩn kỹ thuật thực phẩm thấp hơn tiêu chuẩn Codex có vi phạm luật WTO không?
Không. Hiệp định SPS khuyến khích hài hòa hóa nhưng không bắt buộc các thành viên phải áp dụng tiêu chuẩn ngang bằng hoặc cao hơn tiêu chuẩn quốc tế. Việc áp dụng mức bảo vệ thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế không vi phạm Điều 3 Hiệp định SPS, nhưng sẽ khiến quốc gia không được hưởng giả định phù hợp pháp lý theo Điều 3.2 và có nguy cơ khiến người tiêu dùng nội địa phải chịu rủi ro cao hơn từ thực phẩm nhập khẩu.
-
Bài học rút ra từ việc Việt Nam áp dụng lệnh cấm nhập khẩu nội tạng giai đoạn 2010–2013 dưới lăng kính Hiệp định SPS là gì?
Vụ việc cho thấy việc áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu mà thiếu một bản đánh giá rủi ro khoa học cụ thể theo Điều 5.1 và không tuân thủ thủ tục thông báo trước theo Điều 7 và Phụ lục B Hiệp định SPS sẽ dễ dàng dẫn đến phản ứng và chất vấn pháp lý gay gắt từ các đối tác thương mại, buộc cơ quan quản lý phải dỡ bỏ biện pháp khi không thể biện minh khoa học.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Thảo là công trình nghiên cứu toàn diện về khía cạnh pháp lý của biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của WTO dưới lăng kính bảo vệ thị trường nhập khẩu Việt Nam. Thông qua việc phân tích sâu sắc các án lệ quốc tế và cơ sở lý thuyết lập quy, tác giả làm rõ bản chất của yêu cầu bằng chứng khoa học, nghĩa vụ hài hòa hóa và các quy định thủ tục minh bạch. Luận án đã chỉ ra các khoảng trống và bất cập thực định trong pháp luật Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp sửa đổi lập pháp nhằm bảo đảm sự dung hòa giữa mục tiêu hội nhập thương mại và quyền được bảo vệ sức khỏe của công dân. Công trình đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện chính sách kiểm soát an toàn thực phẩm nhập khẩu và nghiên cứu pháp luật kinh tế quốc tế tại Việt Nam.