Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA CÁC KHOA TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong thời đại hiện nay – thời đại của nền kinh tế tri thức chúng ta đã đƣợc chứng kiến ngày cành nhiều những thành tựu về khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, công nghệ Zen. Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI những phát minh sáng kiến đã vƣợt xa những năm trƣớc đó cộng lại, trong đó vai trò của Giáo dục là hết sức rõ rệt. Giáo dục – đào tạo đã góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau luôn tồn tại một nền giáo dục khác nhau và đi theo nó là một cung cách quản lý khác nhau. Trong giai đoạn hiện nay đối mặt với một nền giáo dục hiện đại thì cũng đòi hỏi phải có biện quản lý phù hợp với sự phát triển giáo dục – đào tạo mà xã hội yêu cầu. Xuất phát từ thực tế đó mà từ lâu các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý GD trong đó quản lí hoạt động giảng dạy luôn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục. Ở nƣớc ta một số công trình nghiên cứu nhƣ: ―Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục‖ của các tác giả Nguyễn Ngọc Quang; ― Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình‖ của Đặng Quốc Bảo.
Những công trình nghiên cứu về quản lý nhà trƣờng nói chung và quản lý hoạt động dạy nói riêng đã đóng góp lớn trong sự nghiệp phát triển giáo dục nƣớc nhà. Những năm gần đây vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các trƣờng cao đẳng, đại học đã có nhiều tác giả nghiên cứu, nhiều luận văn thạc sĩ chuyên 7 z ngành quản lý giáo dục nhƣ: “ Giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo ở trƣờng Cao đẳng sƣ phạm Bắc Giang‖ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Sơn; ― Một số biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động dạy học ở trƣờng đại học Sƣ phạm kỹ thuật Hƣng Yên‖ của tác giả Hoàng Thị Bình; ― Nghiên cứu một số giải pháp quản lý quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo hệ chính quy tại trƣờng Đại học Công đoàn Việt Nam‖ của tác giả Trần Thị Đoan Trang… Các công trình nghiên cứu trên với tầm vóc, quy mô và giá trị khác nhau đã đƣa ra các giải pháp quản lý, phù hợp trong điều kiện cụ thể của từng trƣờng từng vùng, nhằm nâng cao chất lƣợng giảng dạy của giảng viên góp phần trong việc nâng cao chất lƣợng sản phẩm- Đó chính là nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu của thị trƣờng lao động. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu quản lý quá trình đào tạo và dạy học, hoạt động dạy học ở các trƣờng đại học và cao đẳng. Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu các biện pháp tăng cƣờng quản lí hoạt động giảng dạy của giảng viên.
Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về Quản lý Ngay từ khi loài ngƣời xuất hiện cho tới khi con ngƣời bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể thực hiện đƣợc với tƣ cách cá nhân riêng lẻ thì đã bắt đầu hình thành những cách quản lý để thực hiện một mục tiêu chung, cho dù cách qản lý đó là đơn giản thì nó cũng mang lại hiệu quả nhất định. Cách quản lý đã là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân. Vì chúng ta ngày càng dựa vào sự nỗ lực chung và vì nhiều nhóm có tổ chức ngày càng rộng lớn hơn, cho nên nhiệm vụ của các nhà quản lý ngày càng quan trọng. 8 z Quản lí gắn liền với cuộc sống, với hoạt động của con ngƣời, vì thế nó rất đa dạng và phức tạp.
Nhận thức của con ngƣời về quản lí vì thế cũng rất phong phú. Trong các giáo trình và tài liệu về quản lí, khi trình bày khái niệm quản lí, ngoài việc trích dẫn những tƣ tƣởng của các tác giả kinh điển của lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả thƣờng dẫn ra quan điểm của một số tác giả nƣớc ngoài. Dƣới đây là một số quan điểm của một số tác giả đƣợc nhiều ngƣời biết đến và có tầm ảnh hƣởng lớn đến giáo dục. - Frederich Winslon Taylor (1855-1915) cho rằng :"Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đố hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất".
- Theo tác giả ngƣời Đức Baranger cho rằng, quản lý là cai trị một tổ chức bằng cách đặt ra các mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đạt, là lựa chọn, sử dụng các phƣơng tiện nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã định. - Theo Harold Koontz, "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của tổ chức" - Theo A.Kolmogorov, nhà toán học ―Quản lý là gia công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể sống‖. Ngoài những tác giả trên thì vẫn còn rất nhiều tác giả khác cũng có tầm ảnh hƣởng không nhỏ đến lĩnh vực quản lý nhƣ: Henry Fayol (1841-1925); Mary Parkor Pollet (1868-1933); Harold Koontz… và một số tác giả Việt Nam nhƣ: Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân.(Nguyễn Thị Doan, Đỗ Minh Cƣơng, Phƣơng Ký Sơn, Các học thuyết quản lí, NXB Chính trị Quốc gia, H., 1996; Trần Kiểm, Khoa học quản lí giáo dục – một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Giáo dục, H. 9 z Mỗi một tác giả đều nghiên cứu và nhìn nhận quản lý ở một góc độ khác nhau và vì thế cũng đƣa ra những định nghĩa khác nhau, song khái quát chung lại thì có mấy quan điểm về quản lý nhƣ sau: Thứ nhất, nghiên cứu quản lí theo quan điểm của điều khiển học và lí thuyết hệ thống.
Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật v.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó. Quản lý là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển. Thứ hai, nghiên cứu quản lí với tƣ cách là một hoạt động, một lao động tất yếu trong các tổ chức của con ngƣời. Theo đó, Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tƣợng quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế.
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp, các biện pháp cụ thể nhằm đạt đƣợc mục đích đề ra; "Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức"; ― Hoạt động quản lý bao gồm hai quá trình tích hợp với nhau: Đó là, quá trình "quản" và quá trình "lý". Quá trình "quản" bao gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình "lý" bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống, đƣa hệ thống vào thế phát triển. Nếu chỉ lo việc "quản" tổ chức sẽ trì trệ, bảo thủ; nếu chỉ quan tâm đến "lý" tổ chức đó sẽ rơi vào thế mất cân bằng, mất ổn định. Nhƣ vậy quản lý chính là hoạt động tạo ra sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái mới có chất lƣợng mới cao hơn‖ (Đặng Quốc Bảo, Khoa học tổ chức và quản lí một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Thống kê, H., 1999) Thứ ba, nghiên cứu quản lí với tƣ cách là một quá trình trong đó các chức năng quản lí đƣợc thực hiện trong sự tƣơng tác lẫn nhau.
Theo hƣớng 10 z này, Quản lý là quá trình: Xác định mục tiêu mong muốn của tổ chức --> lập kế hoạch --> tổ chức thực hiện --> kiểm tra, đánh giá các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt đƣợc các mục đích xác định; "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra". Do tính đa dạng của quản lí nên việc đƣa ra một định nghĩa khái niệm đƣợc sử dụng chung cho nhiều lĩnh vực là một việc khó khăn. Do vậy, cần thiết phải có sự khu biệt phạm vi mà khái niệm quản lí phản ánh từ đó để định nghĩa khái niệm này một cách chính xác, theo đó ngƣời ta chia thành các lĩnh vực quản lí sau: 1/ Quản lí giới vô sinh. Ví dụ, quản lí nhà xƣởng, hầm mỏ, thiết bị, đồ dùng dạy học.
2/ Quản lí giới sinh vật. Ví dụ, quản lí vật nuôi, quản lí cây trồng. Ví dụ, quản lí sản xuất –kinh tế, quản lí xã hội – chính trị, quản lí đời sống tinh thần. Các lĩnh vực quản lí nêu trên đƣợc xác định theo đối tƣợng tƣợng quản lí.
Đối tƣợng quản lí mặc dù rất đa dạng nhƣng con ngƣời luôn đƣợc xác định là đối tƣợng cơ bản, chính yếu của quản lí. Nói con ngƣời là đối tƣợng cơ bản của quản lí vì con ngƣời có quan hệ với tất cả các đối tƣợng quản lí khác, hơn nữa, quản lí các đối tƣợng đó, xét cho cùng là vì con ngƣời và do con ngƣời. Quản lí là do con ngƣời và vì con ngƣời. Khẳng định con ngƣời là đối tƣợng cơ bản của quản lí phải đồng thời nhấn mạnh rằng, con ngƣời sống và hoạt động trong những nhóm, những tổ chức nhất định (từ đây gọi chung là tổ chức).
Nhƣ vậy, dạng quản lí cơ bản là quản lí xã hội, trong quản lí xã hội, quản lí con ngƣời và hành vi của của con ngƣời là chính yếu. Một cách khái quát, quản lí nói chung (hay nói đến quản lí) là quản lí các tổ chức của con người và hành vi, hoạt động của con người trong các tổ chức đó. Con người đóng vai trò vừa là chủ thể vừa là khách thể của hoạt động quản lí.