Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế, quản lý thuế tài nguyên và thất thu thuế tài nguyên. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chống thất thu thuế tài nguyên trên địa bàn TP Hải Phòng. Chương 3: Một số biện pháp tăng cường quản lý chống thất thu thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp khai thác tài nguyên trên địa bàn TP Hải Phòng giai đoạn 2017 - 2022. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ, QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ THẤT THU THUẾ TÀI NGUYÊN 1.
Khái niệm và đặc điểm của thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng. Khái niệm và đặc điểm của thuế nói chung Từ những góc nhìn, cách tiếp cận và trong những bối cảnh khác nhau, cho đến nay, đã có nhiều ý kiến nói về thuế. Về cơ bản, thuế có một số đặc trưng chủ yếu sau đây: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội. Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập cho Nhà nước mang tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước.
Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định. Kết hợp những nội dung nói về thuế như trên, có thể đưa ra khái niệm tổng quan về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Bản chất của thuế Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng: thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật. Một cách đơn giản nhất, thuế được hiểu là khoản trích nộp bằng tiền mà các tổ chức, cá nhân phải đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực của nhà nước.
Khi xã hội còn tồn tại những mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp thì thuế còn được nhà nước (người đại diện của giai cấp thống trị) động viên vào tay mình nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước (phục vụ cho giai cấp 5 thống trị). Như vậy, bản chất của thuế là sự cưỡng chế nguồn tài chính từ nhân dân được thực hiện bởi nhà nước. Tính cưỡng chế: là đặc tính cơ bản của thuế. Trong thời phong kiến ở phương tây (điển hình là ở Pháp), đã có lúc tính chất này bị phủ định.
Nhưng rất tiếc, mọi nỗ lực nhằm hướng tới một hệ thống thuế có tính chất “tự nguyện” đều nhanh chóng bị đổ vỡ. Các nhà đảo chính trong khi thực hiện các cuộc lật đổ chính quyền cũ đều lấy lòng nhân dân bằng cách hứa hẹn sẽ xây dựng một hệ thống thuế có tính tự nguyện. Nhưng khi đã nắm được chính quyền thì họ lại phải tái khẳng định lại tính cưỡng chế của thuế khóa (thông qua những định chế pháp luật) Đặc tính cơ bản thứ hai của thuế là: không có sự tương thích giữa việc nộp thuế và lợi ích nhận được từ việc nộp thuế. Xét cho cùng thì việc nộp thuế là tập trung một phần nguồn lực và tay nhà nước để sau đó chúng được chi tiêu vào các hoạt động công ích (nói cách khác là để tài trợ cho hàng hóa công cộng).
Một mặt, mọi người đều nhận được hàng hóa công cộng như nhau (không có định suất, hoặc sự định suất là vô ích), nhưng mặt khác, khối lượng thuế phải nộp của những người khác nhau là không giống nhau. Mọi người đều sử dụng chung một hệ thống an sinh xã hội, một con đường. nhưng người giàu hơn phải nộp thuế nhiều hơn. Điều này tạo ra sự khắc biệt giữa thuế và giá cả.
Chức năng của thuế Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế có 3 chức năng cơ bản, đó là: - Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN: Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền với tổng số chi tiêu của của nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho các khoản chi ngân sách. Nhưng các khoản thu này cũng không phải là nguồn bù đắp duy nhất mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp bằng nguồn vay hoặc phát hành tiền tệ. Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm 6 hụt ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huy động của nhà nước để bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ). - Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội: Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng; thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng.
Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tương đối và tuỳ thuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trường. Chính vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với một số người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng, với một số người khác, lại bị coi là tuỳ tiện. - Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường: Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế. Thuế có thể được sử dụng để khắc phục những bất cân bằng của thị trường.
Chẳng hạn như, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tế hoá những tác động nội tại của nền kinh tế. Thuế cũng có thể góp phần thực hiện các cân bằng tổng thể trong khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vĩ mô. Tóm lại, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế đúng với chức năng của nó. Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụ thuế của mỗi quốc gia đó.
Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế xã hội cuả mình, thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết. Vai trò của thuế - Thuế là công cụ chủ yếu huy động và tập trung nguồn lực cho NSNN: Là vai trò đầu tiên của thuế. Mỗi loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Vai trò tạo nguồn thu của thuế xuất phát từ yêu cầu và quyền lực của nhà nước đối với xã hội. Nhà nước và quyền lực chính trị có thể ban hành các loại thuế với các mức thuế suất tùy ý. Tuy nhiên, khi xét về mục đích lâu dài khi định ra các loại thuế, thuế suất, đối tượng chịu thuế chính phủ không chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu tăng thu của ngân sách nhà nước, mà phải thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập. Việc đáp ứng cả ba yêu cầu đó đòi hỏi chính phủ phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các loại thuế, bởi vì nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng động viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả của sản xuất.
- Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng trong phân phối:Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp. Bộ máy và hệ thống chính sách thuế nội địa Việt Nam Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam được hình thành và phát triển trong thời kỳ “đổi mới” (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986). Sau hơn 20 năm thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế, nước ta được xây dựng và hoàn thiện dần theo thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bao gồm các loại thuế, khoản thu sau đây: (1) Thuế giá trị gia tăng (GTGT) (2) Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) (3) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) (4) Thuế tài nguyên 8 (5) Thuế bảo vệ môi trường (6) Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) (7) Thuế sử dụng đất nông nghiệp (8) Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (9) Thuế môn bài (10) Các khoản thu về đất: Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (11) Các loại phí và lệ phí và một số khoản thu khác * Bộ máy quản lý thu thuế nội địa Việt Nam Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), hệ thống thuế Nhà nước được thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý các loại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa. Bộ máy quản lý thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương.
CHÍNH PHỦ Bộ Tài chính UBND tỉnh, TP trực thuộc TW Tổng cục Thuế Cục thuế tỉnh, TP UBND quận, trực thuộc TW huyện Chi cục thuế quận, huyện Hình 1. Sơ đồ hệ thống bộ máy quản lý thuế nội địa hiện hành Ngày 28 tháng 10 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính. Theo đó, bộ máy 9 quản lý thu thuế nội địa được đổi mới tổ chức theo mô hình chức năng, chuyển sang thực hiện việc cung cấp thông tin và dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế; đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế.