CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG MỞ VỈA VÀ CHUẨN BỊ RUỘNG MỎ TẠI MỘT SỐ CÔNG TY THAN HẦM LÒ VÙNG QUẢNG NINH 1. Công ty than Mạo Khê 1. Biên giới của mỏ Khu vực của 56 Công ty Than Mạo Khê nằm trong địa hình đồi núi do vậy chịu ảnh hưởng của điều kiện địa chất khu mỏ khu vực thiết kế mở vỉa là từ mức +30 xuống mức -150 được giới hạn như sau: - Phía Bắc bởi đường đẳng vách vỉa 10; - Phía Nam bởi đứt gãy FA; - Phía Đông giáp tuyến thăm dò VI; - Phía Tây giáp tuyến thăm dò III. Hiện nay công ty than Mạo Khê đang khai thác tầng từ mức +30 -80 với công suất là 1.000 tấn/năm và đã đào xong hệ thống sân ga hầm trạm bên giếng mức -150 để chuẩn bị khai thác tầng II mức -80 -150.
Trữ lượng địa chất khoáng sàng (cánh Bắc và cánh Nam) từ LV ¸ -150 tính đến 31/10/2007 là 79. Trong đó: trữ lượng địa chất huy động khối Tây từ TI đến TIXA là 32.048x10 3 tấn, tương ứng với 21.573x103 tấn trữ lượng công nghiệp. Công tác mở vỉa Hiện tại mỏ đang tổ chức khai thác than tại 03 tầng như sau: - Tầng I: Từ mức +30 xuống mức -25; - Tầng II: Từ mức -25 xuống mức -80; - Tầng III: Từ mức -80 xuống mức -150; - Mức -25 Lộ vỉa: Đã được khai thông bằng 1 cặp giếng nghiêng ở cánh Bắc từ +27,5 -25, giếng chính có góc dốc 160 đặt băng tải, giếng phụ có góc dốc 25 0 đặt trục tải. Tọa độ mở giếng nghiêng như sau.
Tại mức -25 mở hệ thống sân ga vòng, lò xuyên vỉa -25…Phương pháp chuẩn bị khai thác đều là khấu đuổi có lò dọc vỉa đá tiến trước. - Mức -25 - 150: Sử dụng lại cặp giếng nghiêng đã đào theo thiết kế của Trung Quốc và được chia thành 3 tầng: Tầng I: Từ mức +30 - 25; Tầng II: Từ mức – 25 - 80; Hiện nay tầng I, II mức +30 -80 khu Tây Bắc I chuẩn bị đi vào kết thúc, mỏ đã đào xong hệ thống sân ga, hầm trạm bên giếng và đang đào xuyên vỉa TBI mức -150 để chuẩn bị diện khai thác tầng III theo thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt. Tầng III: Từ mức -80 -150 Học viên: Đào Văn Hưng 4 Chuyên ngành: Khai thác mỏ Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh Luận văn Thạc sĩ - Mặt bằng sân công nghiệp Công ty than Mạo Khê - TKV bằng phẳng, dễ dàng cho các công tác vận chuyển vật tư, vật liệu, than khai thác. Với tuyến đường giao thông thuận tiện, gần với các tuyến đường quốc lộ chính, đường thuỷ và đường sắt.
- Tại mặt bằng sân công nghiệp mức +17 đã đào 2 lò giếng nghiêng (giếng chính và giếng phụ). Theo thiết kế quy hoạch phát triển của ngành than công ty than Mạo Khê sẽ khai thác xuống mức -400 (hiện tại lò giếng đã đào xuống mức -150) do đó công tác mở vỉa xuống sâu tiếp theo sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Nếu tổ chức đào tiếp lò giếng nghiêng thì chiều dài lò giếng rất dài và khó khăn cho công tác vận chuyển và khai thác do khu vực khai thác xa khu vực sân giếng trung tâm. - Hiện tại công ty tập trung khai thác than khu vực tầng -80/-25, khoảng 3/4 sản lượng than của Công ty đang được khai thác tại khu vực này nên công tác vận tải than gặp nhiều khó khăn do tuyến đường lò xuyên vỉa chính mức -80 và khu vực quang lật rót than chưa đáp ứng được sản lượng khai thác ra.
- Do các diện khai thác xa khu vực trung tâm, việc chuẩn bị các diện khai thác tại mức -150 chậm nên tại tầng -80/-25 các diện khai thác được bố trí gần nhau (đã có thời gian có 05 Phân xưởng cùng tổ chức khai thác cùng 01 vỉa than) nên gặp nhiều khó khăn cho công tác vận tải, thông gió, tăng chi phí vận chuyển than và vật tư vật liệu, chi phí mở diện khai thác. - Mỏ Mạo Khê là mỏ có khí nổ siêu hạng, trong những năm qua công tác thông gió được thực hiện tương đối tốt, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu thông gió cho các diện khai thác. Sơ đồ đường lò và thông gió phức tạp dẫn đến việc phân phối gió cho các diện khai thác phải được kiểm tra và chỉnh sửa liên tục, phải bố trí nhiều cửa gió (mỗi cửa gió phải bố trí 01 người để đóng, mở nên tốn kém cho chi phí than). Tại các đường lò mức +30, -25, -80 có một số đoạn đường lò được đào với tiết diện nhỏ.
Thực tế áp lực tại khu vực rất lớn, lò bị bùng nền, thu hẹp tiết diện nên khó khăn cho công tác vận chuyển và thông gió. - Do công tác mở vỉa được thiết kế vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước nên trong thời điểm hiện tại đã lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu sản lượng ngày càng tăng cao và việc áp dụng các công nghệ khai thác tiên tiến. - Căn cứ vào điều kiện địa chất thực tế tại Công ty, nên phải đào các đường lò dọc vỉa đá từ lò xuyên vỉa chính rồi mới mở cúp đào các lò dọc vỉa than, thượng khai thác than nên chi phí đào lò lớn. - Tài liệu địa chất của khu vực chưa hoàn thiện nên quá trình khai thác tầng trên đã gặp nhiều sự cố như bục nước, phay.
Thực tế qua khai thác các tầng trên đã một phần nắm được một số điều kiện địa chất của các vỉa than làm cơ sở khai thác cho các tầng dưới. Chuẩn bị ruộng mỏ Từ mức +30 -80 hiện nay đang khai thác với sản lượng trung bình khoảng 1,4 triệu tấn/năm. Khu vực này được chia làm 2 tầng, được chuẩn bị như sau: Học viên: Đào Văn Hưng 5 Chuyên ngành: Khai thác mỏ Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh Luận văn Thạc sĩ - Tầng I: Từ mức +30 -25: + Mức thông gió: lò bằng xuyên vỉa TBI +30 và lò dọc vỉa đá +30. + Mức vận tải -25: Từ lò xuyên vỉa TBI -25 đào các đường lò dọc vỉa đá mức -25 về 2 cánh của khu, mở các cúp vào vỉa, đào lò dọc vỉa than và thượng mở lò chợ.
- Tầng II: Từ mức -25 -80 : + Mức thông gió: lò bằng xuyên vỉa TBI -25 và lò dọc vỉa đá -25; + Mức vận tải -80: Từ lò xuyên vỉa TBI -80 đào các đường lò dọc vỉa đá mức -80 về 2 cánh của khu, mở các cúp vào vỉa, đào lò dọc vỉa than và thượng mở lò chợ. Cả 2 tầng trên, trong mỗi vỉa than tiến hành đào các lò dọc vỉa đá ở lớp đá trụ vỉa và từ các lò dọc vỉa đá đào các cúp xuyên vỉa với chiều dài từ 25 30 mét tới các vỉa than. Hệ thống khai thác Chuẩn bị khai thác theo phương pháp khấu đuổi có lò đá tiến trước. khai thác ở 2 khu vực chính là khu trung tâm và khu mở rộng, với 11 lò chợ và 14 gương lò chuẩn bị.
- Khu trung tâm: Khai thác từ mức (- 80 +124) ở 3 vỉa V7, V9, V9b với 6 lò chợ No 7Đ (+30 -25), No 9T(- 80 -25), No 9T(- 25 +30), No 9Đ (- 80 -25), No 9bT (-80 -25), No 9bT(-25 +30) và 8 gương lò chuẩn bị; - Khu mở rộng: Khai thác từ mức (-80 +73) ở 5 vỉa V6, V7, V8, V9, V9b với 5 lò chợ No 6ĐMR (-25 +30), No 7ĐMR (- 25 +30), No 8ĐMR (- 80 -25), No 9ĐB2 (- 25 +30), No 9bĐB2 (-25 +30) và 6 gương lò chuẩn bị. Mỏ áp dụng hệ thống khai thác chính là cột dài theo phương khấu đuổi, phá hoả toàn phần, với các lò chân chợ thường được đào cùng với quá trình khai thác. Lò chợ chống bằng cột thuỷ lực đơn, sản lượng (270 430) tấn/ngày. Gương lò chuẩn bị có tiết diện S = (5,1 6,5 ) m2, đường lò đào có chiều dài lớn nhất là 300 mét.
Công tác vận tải - Vận chuyển khoáng sàng mức -25: Than khai thác ở lò chợ theo máng trượt xuống lò dọc vỉa than qua cúp nối bằng máng cào rót lên goòng ở dọc vỉa đá được tầu điện ác qui kéo ra ngoài về ga quang lật xuống bun ke chứa than, rót lên băng tải đưa lên mặt bằng và về nhà sàng tuyển; - Đất đá được chuyển về ga giếng phụ và kéo lên hệ thống tời trục, qua quang lật đổ lên ô tô vận chuyển ra bải thải; - Vật liệu thiết bị được đưa xuống theo giếng phụ, xuống ga được tầu điện ác qui đưa đến các hộ tiêu thụ; - Gỗ được đưa từ bãi gỗ vào lò bằng xuyên vỉa mức +30 vào các cúp qua dọc vỉa than cung cấp cho lò chợ. Tại mức -80: than từ các lò chợ thông qua thiết bị vận tải đưa xuống lò dọc vỉa than qua cúp nối bằng máng cào rót lên goòng ở lò dọc vỉa đá -80 được chất lên băng tải qua sân giếng và lên mặt đất theo giếng chính. Học viên: Đào Văn Hưng 6 Chuyên ngành: Khai thác mỏ Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh Luận văn Thạc sĩ Tại mức -150 về cơ bản giống với sơ đồ vận tải như đã trình bày ở trên, than từ lò chợ đưa xuống dọc vỉa than qua cúp xuyên vỉa đến dọc vỉa đá chất lên băng tải qua sân ga -150 lên mặt đất ra cảng xuất than. Công tác thông gió Mỏ Mạo Khê sử dụng hệ thống thông gió hút, gió sạch từ ngoài trời qua giếng, qua sân ga, qua dọc vỉa đá qua cúp nối vào lò dọc vỉa than lên thông gió cho lò chợ.
- Gió bẩn: từ lò chợ qua dọc vỉa than, qua cúp nối, qua dọc vỉa đá ra xuyên vỉa +30 qua rãnh gió qua quạt ra ngoài. Học viên: Đào Văn Hưng 7 Chuyên ngành: Khai thác mỏ Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh Luận văn Thạc sĩ Hình 1. Sơ đồ mở vỉa mỏ than Mạo khê (tầng +35 ÷ -25) Học viên: Đào Văn Hưng 8 Chuyên ngành: Khai thác mỏ Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh Luận văn Thạc sĩ Hình 1. Sơ đồ mở vỉa mỏ than Mạo khê (tầng -80 ÷ -150) Học viên: Đào Văn Hưng 9 Chuyên ngành: Khai thác mỏ Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh Luận văn Thạc sĩ 1.
Công tác thoát nước Nước từ các hố đổ về xuyên vỉa trung tâm và tự chảy về hầm chứa nước ở dưới chân giếng phụ, tại đây nước được bơm lên từ hệ thống mương trên sân công nghiệp.