Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn bắt người trong TTHS. Chương 2: Những quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người theo quy định của Luật TTHS Việt Nam. Chương 3: Yêu cầu hoàn thiện và giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người theo quy định của Luật TTHS Việt Nam. Chuong 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE BIEN PHAP NGAN CHAN BÁT NGƯỜI TRONG TÓ TỤNG HÌNH SU 1.
KHAI NIEM, DAC DIEM, Y NGHIA CUA BIEN PHAP NGAN CHAN BAT NGUOI 1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt người Việc nghiên cứu và làm sáng tỏ khái niệm biện pháp bắt người có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cho các cơ quan, cá nhân, người có thẩm quyền THTT, đồng thời bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp này đúng pháp luật, bảo vệ được quyền cơ bản của con người, của công dân. Trước khi làm sáng tỏ khái niệm bắt người, cần làm rõ khái niệm BPNC. Sách bình luận khoa học BLTTHS năm 2015 đã đưa ra quan điểm về khái niệm của BPNC: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp do cơ quan, người có thẩm quyển tiến hành tô tụng áp dụng đối với người bị tình nghỉ là thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn việc người đó bỏ tron, tiéu huy chứng cứ, gây khó khăn cho việc diéu tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội `.
Các BPNC khác các biện pháp cưỡng chế TTHS không những ở bản chất pháp lý mà còn ở mục đích áp dụng. Mục đích của BPNC là: 1) Kịp thời ngăn chặn tội phạm; 2) Ngăn chặn bị can, bị cáo gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; 3) Không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật; 4) Bảo đảm việc thi hành án. Trong khi đó, các biện pháp cưỡng chế TTH§ như áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản không hạn chế quyên tự do về thân thê của người bị áp dụng mà chỉ có mục đích bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm BPNC như sau: BPNC là biện pháp mang tính chất cưỡng chế về mặt tố tụng áp dụng khi có đủ căn cứ, tạm thời hạn chế tự do về thân thê của của bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trồn tránh pháp luật hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án.
Theo quy định của BLTTHS năm 2015, các BPNC gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cắm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Các trường hợp bắt người gồm: 1) Bat người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; 2) Bắt người phạm tội quả tang: 3) Bắt người đang bị truy nã; 4) Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; 5) Bắt người bị yêu cầu dẫn độ. Có nhiều định nghĩa về thuật ngữ bắt, theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội xuất bản năm 1992 thì: “Bắt là một động từ diễn tả sự nắm lại, giữ lại một người hay một sinh vật nào đó không dé cho tự do hoạt động hoặc cử động” [53, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt của Nxb.
Đà Nẵng xuất bản năm 2001, “Bắt là nắm lại, giữ lại, không đề cho tự do hoạt động hoặc cử động” [54, tr. Còn theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Da Nẵng năm 2003 có định nghĩa về thuật ngữ này như sau: “Bắt là động từ chỉ hoạt động năm lấy, giữ lại, không đề cho tự do hoạt động hoặc cứ động” [55, tr. Theo cách định nghĩa như trên, bắt được hiểu là một hoạt động của con người, được thể hiện băng việc chủ động năm lẫy, nắm lại, giữ lại một đối tượng có thể là người hoặc vật nhằm mục đích không cho đối tượng ay tu do hoạt động hoặc cử động. Hoạt động này bắt đầu ngay khi một người chủ động thực hiện hành động năm, giữ một đối tượng khác đồng thời trong suốt quá trình đó, người này thực hiện việc giám sát, kiêm soát đôi tượng không cho đối tượng ay tự do hoạt động hoặc cử động và hoạt động bắt chỉ kết thúc khi hành động nắm, giữ, kiểm soát chấm dứt.
Mặt khác, khi tiếp cận dưới góc độ pháp lý, khái niệm bắt gắn liền với các BPNC trong TTHS tuy nhiên khái niệm này còn chưa được ghi nhận một cách thống nhất trong các văn bản pháp luật, việc này gây ra nhiều mâu thuẫn, tranh cãi giữa các nhà khoa học. Hiện nay, dưới góc độ pháp lý, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm của BPNC bắt như: Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân của Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2005: “Bắt người phạm tội là một BPNC trong TTHS, được tiễn hành theo quy định của pháp luật và theo lệnh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhằm chặn đứng hành vi phạm tội và không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như việc đảm bảo thi hành luật” [2. Khái niệm trên về cơ bản đã nêu được mục đích áp dụng cũng như các chủ thể có thâm quyền áp dụng BPNC bắt người tuy nhiên việc xác định chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người vẫn chưa đầy đủ bởi ngoài các chủ thể là Cơ quan điều tra, Tòa án và Viện Kiểm sát ra còn có các chủ thể khác cũng có thâm quyền áp dụng biện pháp này như trong trường hợp đối với bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt. Hay theo Từ điển luật học định nghĩa khái niệm này như sau: “Bắt là một trong những BPNC mà Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Toà án áp dụng khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi thấy cần để bảo đảm việc thi hành án”.
Cũng tương tự như cách định nghĩa theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân, cách định nghĩa này vẫn chỉ dừng lại ở việc xác định chủ thể, thâm quyền, mục đích áp dụng biện pháp bắt nhưng chưa nêu đầy đủ được các chủ thể có thâm quyền áp dụng biện pháp này. Trong giáo trình Luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội, biện pháp bắt người được hiểu như sau: “Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tổ tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thi dp dung doi với người chưa bị khởi tổ về hình sự, nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trồn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tổ, xét xử và thi hành án hình sự" [51, tr. Ngoài ra, có rất nhiều tác giả, nhà khoa học đã nghiên cứu về vấn đề này kèm theo đó là các quan điểm, các cách định nghĩa khác nhau về khái niệm bắt người có thê kê đến như: Theo tác giả Nguyễn Trọng Phúc, khái niệm bắt được hiểu đơn giản như sau: “Bắt người trong tổ tụng hình sự là giữ người có hành vi phạm tội, không để cho họ tiếp tục phạm tội" [35, tr. Có thể thây, cách định nghĩa cua tac gia còn sơ sảI, nội hàm của khái niệm này quá đơn giản, chỉ nêu được đối tượng bị áp dụng là người có hành vi phạm tội và mục đích của việc áp dụng biện pháp bắt người là không đề cho họ tiếp tục phạm tội.
Hay theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Điệp lại cho rang: “Bat la biện phap cuéng ché duoc quy dinh trong ludt t6 tung hình sự do cơ quan, người có tham quyén do luật định áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi 10; người đang có hành vì phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã khi có căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kip thoi ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tổ, xét xử và thi hành án” [23, tr. Theo cách định nghĩa này, tác giả đã làm rõ được bản chất, chủ thể, đối tượng, căn cứ áp dụng biện pháp bắt người. Đặc biệt, tác giả đã làm rõ đối tượng bị áp dụng biện pháp này là các bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi 6, nguoi co hành vi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Có thé thay tác giả đã làm rõ và chỉ tiết các đối tượng có thể bị áp dụng BPNC này.
10 Theo tac gia Tran Quang Tiệp lại có cách nhìn nhận khác về định nghĩa này: “Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tô tụng hình sự, do người có thấm quyền áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) theo những trình tự, thủ tục do pháp luật to tung hinh sw quy dinh, nham ngăn chặn tội phạm, người thực hiện tội phạm trồn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc tiễn hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án” [51. Khái niệm này đã xác định được bản chất của biện pháp bắt người là việc tạm thời hạn chế tự do thân thể của đối tượng bị áp dụng, theo những trình tự, thủ tục cụ thể do pháp luật TTHS quy định. Tuy nhiên, khái niệm này lại bị thiếu sót trong việc xác định đối tượng bị áp dụng biện pháp này, ngoài bị can, bị cáo, người chưa bị khởi tố ra còn có người bị yêu cầu dẫn độ cũng là đối tượng bị áp dụng BPNC này. Theo quan điểm của tác giả Phạm Mạnh Hùng, khái niệm bắt được định nghĩa như sau: “Bắt người là biện pháp ngăn chặn, áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người phạm tội quả tang, bị can, bị cáo, người đang bị truy nã hoặc người bị yêu câu dẫn độ” [28.
Tuy khái niệm này phản ánh day đủ, rõ ràng đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người, nhưng chưa thê hiện được chủ thể, căn cứ và mục đích áp dụng BPNC này.