Chương 1: Cơ sở lý luận về doanh nghiệp và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Năng lượng Bình An. Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Năng lượng Bình An. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm và bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong hoạt động kinh tế có rất nhiều quan điểm về hiệu quả sản xuất kinmh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp (DN) là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của đơn vị cũng như của nền kinh tế (bao gồm nhân lực, tài lực và vật lực) để thực hiện các mục tiêu đã đề ra với kết quả cao nhất và chi phí thấp nhất. [24] Hiệu quả sản xuất kinh doanh - Đó là kết quả mong đợi của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là lợi ích kinh tế – xã hội, lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của người lao động.
Hiệu quả kinh tế còn được hiểu theo nghĩa: Chi phí ít nhất để thu được lợi ích lớn nhất trong điều kiện cho phép. Hay nói theo cách khác hiệu quả sản xuất kinh doanh - Đó là kinh doanh có lãi, mang lại lợi nhuận cho công ty, đóng góp đầy đủ nghĩa vụ cho Nhà nước (thông qua hệ thống thuế), đảm bảo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Hiệu quả sản xuất kinh doanh đó là kết quả của một quá trình hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định. Nó chịu nhiều yếu tố tác động.
Do vậy, khi nghiên cứu phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp cũng có nghĩa là chúng ta phân tích đánh giá và xử lý các yếu tố tác động làm ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua các chỉ tiêu kinh tế dựa trên các kết quả đã thu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các năm và những dự báo trong tương lai về tình hình sản xuất kinh doanh. Từ đó có thể đánh giá đầy đủ mặt mạnh - yếu trong công tác quản lý của doanh nghiệp. Tìm ra các biện pháp sát thực để tăng cường các hoạt động kinh 5 tế và quản lý doanh nghiệp nhằm huy động mọi khả năng tiềm tàng về vốn, lao động, đất đai…vào quá trình sản xuất kinh doanh, nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp (khái quát) và các chỉ tiêu chi tiết cụ thể.
Các chỉ tiêu đó phải phản ánh được sức sản xuất, suất hao phí cũng như khả năng sinh lợi của từng yếu tố, từng loại vốn và phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu quả chung: Kết quả đầu vào Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu, là cái đích mà mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường đều phải vươn tới, đó là điều kiện tiên quyết trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh doanh được biểu hiện dưới các dạng khác nhau. Mỗi dạng có những đặc trưng và ý nghĩa cụ thể hiệu quả theo cách riêng. Việc phân chia hiệu quả kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý kinh doanh, là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và định mức hiệu quả kinh doanh để từ đó có biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
a) Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó. Hiệu quả tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Biểu hiện chung của hiệu quả doanh nghiệp là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được. Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả này là lợi nhuận cao nhất và ổn định.
[15] Hiệu quả kinh tế quốc dân hay còn gọi là hiệu kinh tế xã hội tổng hợp xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Hiệu quả kinh tế quốc dân mà doanh nghiệp mang lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của doanh nghiệp vào phát triển xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động. [13], [15] 6 Hiệu quả kinh tế quốc dân là mối quan tâm của toàn xã hội mà đại diện là nhà nước. Hiệu quả tài chính được xem xét theo quan điểm doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế quốc dân xem xét theo quan điểm toàn xã hội.
Quan hệ giữa hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân là mối quan hệ giữa lợi ích bộ phận với lợi ích tổng thể, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và toàn xã hội. Trong quản lý kinh doanh không những cần tính hiệu quả tài chính doanh nghiệp mà còn phải tính đến hiệu quả kinh tế xã hội doanh nghiệp đem lại cho nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội, đó chính là tiền đề cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
[15] b) Hiệu quả chi phí xã hội Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn với môi trường và thị trường kinh doanh của nó. Doanh nghiệp nào cũng căn cứ vào thị trường để giải quyết các vấn đề then chốt: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Mỗi doanh nghiệp đều tiến hành sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện cụ thể về tài nguyên, trình độ, trang thiết bị kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý lao động, quản lý kinh doanh. Họ đưa ra thị trường sản phẩm với một chi phí nhất định và người nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá của mình với giá cao nhất. Tuy vậy khi đưa hàng hoá của mình ra thị trường, họ chỉ có thể bán sản phẩm của mình theo giá thị trường nếu chất lượng sản phẩm của họ là tương đương.
Bởi vì thị trường chỉ chấp nhận mức hao phí xã hội cần thiết trung bình để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá. Quy luật giá trị đặt tất cả các doanh nghiệp với một mức chi phí khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua mức giá cả thị trường. c) Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối là hai hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Trong đó hiệu quả tuyệt đối được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí.
Hiệu quả tương đối được đo bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí. Trong quản lý kinh doanh việc xác định hiệu quả nhằm mục tiêu cơ bản để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh. Phân tích 7 luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể đó để lựa chọn phương án tối ưu nhất. Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một phương án quyết định nào đó.
Để biết rõ chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể là gì, từ đó quyết định bỏ tiền ra thực hiện phương án hay quyết định kinh doanh phương án đó không. Vì vậy, trong công tác quản lý kinh doanh, bất cứ việc gì đòi hỏi chi phí, dù một phương án lớn hay một phương án nhỏ đều cần phải tính hiệu quả tuyệt đối. d) Hiệu quả trước mắt và lâu dài. Căn cứ vào lợi ích nhận được trong các khoảng thời gian dài hay ngắn mà người ta đưa ra xem xét đánh giá hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài.
Lợi ích trong hiệu quả trước mắt là hiệu quả xem xét trong thời gian ngắn. Hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét đánh giá trong một khoảng thời gian dài. Doanh nghiệp cần phải xem xét thực hiện các hoạt động kinh doanh sao cho nó mang lại lợi ích trước mắt cũng như lâu dài cho doanh nghiệp. Phải kết hợp hài hoà lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, không được chỉ vì lợi ích trước mắt mà làm thiệt hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp.
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng được phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chúng ta cần : Thứ nhất: Phải hiểu rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp. Mối quan hệ so sánh ở đây có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối. Về mặt so sánh tuyệt đối thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là : 8 H=K-C H : Là hiệu quả sản xuất kinh doanh K : Là kết quả đạt được C : Là chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào Còn về so sánh tương đối thì : H = K/C Do đó để tính được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta phải tính kết quả đạt được và chi phí bỏ ra.