Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục của trâu cái Sinh sản là chức năng đặc biệt của gia súc cái. Đó là một quá trình sinh lý vô cùng phức tạp.
Vì vậy việc hiểu biết chắc chắn về cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục trâu cái sẽ giúp thực hiện thành công những biện pháp kỹ thuật, nhất là trong các trường hợp can thiệp chậm sinh, mà không làm ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của chúng. Bộ máy sinh dục của trâu cái nhìn chung giống như của bò cái, nhưng cũng có một số đặc điểm khác biệt so với bò. Nhìn từ ngoài vào trong, cơ quan sinh dục trâu cái gồm các phần chính là: Âm hộ, âm vật, âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2008)[45] 1. Âm hộ Âm hộ là bộ phận sinh dục ngoài, gồm có tiền đình và những phần liên quan của âm môn.
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, dài 10 – 12 cm, chỗ giáp giới giữa âm đạo và tiền đình có lỗ ra của niệu quản và thường có một cái mào (màng trinh). Âm môn gồm tiểu âm môn và đại âm môn. Âm vật nằm ở góc phía dưới hai mép của âm môn. Về cấu tạo, âm vật có các thể hổng giống như dương vật con đực, trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003)[23].
Âm vật có nhiều đầu mút thần kinh giao cảm và có khả năng cương cứng khi động dục. Trong thực tiễn, khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật, kích thích hưng phấn để tử cung nhu động, tạo ra các cơn co thắt (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003)[23]. Âm đạo Âm đạo trâu có hình ống, thành mỏng và rất đàn hồi, có chiều dài từ 24 - 30 cm với nhiều lớp vách cơ. Cách mép âm hộ 10 cm phía trong dọc theo 4 đáy âm đạo là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang đổ vào trong âm đạo gần túi thừa niệu đạo (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2008)[45].
Âm đạo là cơ quan đa chức năng, vừa là cơ quan giao cấu, vừa là nơi đào thải nước tiểu và các chất dịch của cơ đường sinh dục cái. Trong giao phối, tinh thanh không được vận chuyển vào trong tử cung mà phần lớn thải ra ngoài hoặc hấp phụ qua vách âm đạo; âm đạo là con đường bài xuất các chất tiết của cổ tử cung, nội mạc tử cung và ống dẫn trứng (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003)[23]. Cổ tử cung Cổ tử cung là nơi nối giữa âm đạo và tử cung. Cổ tử cung có kích thước tăng dần với độ tuổi, thường dài từ 3 – 10 cm, đường kính 1,5 – 6 cm, hơi cứng hơn so với các bộ phận khác của cơ quan sinh sản và thường được định vị bằng cách sờ nhẹ xung quanh vùng đáy chậu (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2008)[45].
Vị trí của cổ tử cung sẽ thay đổi theo tuổi của trâu, bò cái và giai đoạn có chửa. Nhìn chung, cổ tử cung của trâu hẹp và khúc khuỷu hơn ở hơn cổ tử cung của bò, số vòng nhẫn trong cổ thường là 3 vòng và miệng cổ tử cung của trâu trong thời kỳ động dục không mở rộng như của bò (Nguyễn Tấn Anh, 2003)[3]. Cổ tử cung có đặc trưng là một thành dày và một xoang chật hẹp, rãnh cổ tử cung được đặc trưng bằng những mấu lồi. Ở động vật nhai lại, những mấu này có dạng nằm ngang hoặc xếp lồng xoắn vào nhau như những vòng nhẫn và phát triển với mức độ khác nhau tùy loài (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003)[23].
Niêm mạc cổ tử cung có nhiều nếp gấp ngang hoặc xoắn không đều nhau tạo thành những thuỳ gọi là “thuỳ hoa nở” – “vòng nhẫn”. Thuỳ ngoài cùng nhô vào âm đạo 0,5 – 1,0 cm nhìn bên ngoài như hoa cúc đại đoá, các nếp nhăn này tạo thành những van khép để bảo vệ vật lạ không lọt vào tử cung (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2008)[45]. Cổ tử cung có vai trò rất quan trọng trong quá trình sinh sản: Là nơi tiếp nhận tinh trùng, giúp tinh trùng di chuyển vào xoang tử cung được dễ dàng hoặc không cho tinh trùng xâm nhập nếu gia súc không động dục; là nơi 5 hình hình thành các ổ chứa tinh trùng; chọn lọc tinh trùng sống, ngăn cản sự vận chuyển của tinh trùng chết và tinh trùng có khuyết tật; đồng thời tham gia vào quá trình kiện toàn năng lực thụ tinh của tinh trùng (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003)[23]. Khi gia súc có chửa, cổ tử cung tiết ra một loại dịch nhờn có độ nhớt cao, dầy, đặc, bịt kín cổ tử cung, có vai trò chống lại sự xâm nhập của tinh trùng, vi khuẩn và vật lạ vào tử cung.
Chỉ khi đẻ cổ tử cung mới mở ra bằng cách dịch nút cổ tử cung lỏng ra, cổ tử cung dãn ra để cho thai và màng nhau đẩy ra ngoài. Tử cung Tử cung trâu bao gồm thân và 2 sừng tử cung, nằm toàn bộ trong xoang chậu, khi đã đẻ nhiều lứa thì tử cung lùi vào xoang bụng. Tử cung là nơi làm tổ của hợp tử và phát triển của thai sau này. Thân tử cung là phần nối giữa sừng và cổ tử cung, dài khoảng 2 – 3 cm, sau đó tách ra thành 2 sừng.
Khi sờ khám có cảm giác thân tử cung dài hơn vì các sừng tử cung được liên kết với nhau bởi dây chằng trong khoảng 10 – 12 cm, sau đó mới tách ra làm hai (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2008)[45]. Nhìn chung, thân tử cung của trâu ngắn hơn ở bò (Nguyễn Tấn Anh, 2003)[3]. Sừng tử cung của trâu thuộc dạng chẻ đôi, gồm sừng trái và sừng phải, có độ dài khoảng 30 - 40 cm, có đường kính từ 2 cm trở lên (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2008)[45]. Ở trâu, 2 sừng tử cung tiếp giáp với thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng phía trên của tử cung – gọi là rãnh giữa tử cung, dài 3 – 5 cm, có tác dụng phân biệt tử cung lúc bình thường, lúc có chửa hay bệnh lý.
Sừng tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, sau đó phát phát triển thành phôi và thai. Sừng tử cung có thành dày, đàn hồi và có nhiều mạch máu để nuôi thai. Tử cung có chức năng quan trọng trong sinh sản của gia súc cái. Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003)[23], tử cung có các chức năng chính sau: - Vận chuyển tinh trùng: Lúc giao phối, sự co thắt của tử cung là cần thiết giúp sự vận chuyển của tinh trùng từ vị trí phóng tinh đến vị trí thụ tinh.
6 - Điều hòa chức năng của thể vàng: Tử cung giữ vai trò quan trọng trong việc điều khiển chức năng của thể vàng. Các thí nghiệm trên bò, cừu, lợn cho thấy thể vàng được duy trì hoạt động trong một thời gian dài sau khi cắt bỏ tử cung. Nếu cắt bỏ còn sót lại một ít mô tử cung, sự thoái hóa thể vàng xảy ra và chu kỳ động dục mới được bắt đầu sau một thời gian. Nếu cắt bỏ một bên sừng tử cung, thể vàng cùng bên với sừng tử cung này thường được duy trì lâu hơn so với thể vàng bên sừng tử cung không bị cắt bỏ.
- Làm tổ và chửa đẻ: Tử cung là cơ quan chuyên biệt hóa cao độ, nó được thích nghi để chấp nhận và nuôi dưỡng các sản phẩm của sự thụ thai từ lúc làm tổ cho đến lúc đẻ. Sau khi hợp tử làm tổ, sự phát triển của phôi phụ thuộc vào sự cung cấp máu đầy đủ trong nội mạc tử cung. Trong suốt thời kỳ có chửa, các đặc điểm sinh lý học của nội mạc tử cung và việc cung cấp máu có ý nghĩa quyết định sự sống còn và phát triển của thai. Khi đẻ, tử cung co bóp mạnh để tống thai ra ngoài.
Sau khi đẻ, tử cung hầu như trở lại kích thước ban đầu bằng một quá trính gọi là co dạ con (co tử cung). Thời gian sau đẻ diễn ra quá trình phá hủy mô nội mạc tử cung kèm theo sự có mặt của một số lượng lớn bạch cầu cùng với việc giảm thấp lòng mạch nội mạc tử cung. Các tế bào cơ tử cung giảm về số lượng và kích thước. Những biến đổi nhanh chóng và không cân đối này có thể là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ thụ thai sau khi đẻ giảm thấp.
Ống dẫn trứng Ống dẫn trứng (hay vòi Fallop) nằm ở màng treo buồng trứng gồm một đôi ống ngoằn ngoèo bắt đầu từ cạnh buồng trứng kéo dài đến đỉnh của sừng tử cung. Ống dẫn trứng dài khoảng 20 – 25 cm, đường kính khoảng 1- 2 mm (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2008)[45]. Một đầu ống dẫn trứng xuất phát từ đầu chóp sừng tử cung, còn đầu kia gắn với loa kèn. Ống dẫn trứng của trâu thô cứng và ẩn sâu trong dây chằng rộng so với bò (Nguyễn Tấn Anh, 2003)[3].
Loa kèn là một màng mỏng rộng 20 – 30 cm2 bao phủ toàn bộ buồng trứng (Hoàng Kim Giao và cs, 1997)[21]. Ống dẫn trứng được chia 7 thành bốn đoạn, có chức năng khác nhau, gồm: đoạn tua diềm – phễu – phồng ống dẫn trứng và đoạn eo của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh, 2003)[3]. Ống dẫn trứng có chức năng như một chiếc ống để tế bào trứng di chuyển và đồng thời cũng là nơi tế bào trứng và tinh trùng gặp nhau để xảy ra quá trình thụ tinh. Sự thụ tinh xảy ra ở khoảng 1/3 phía trên ống dẫn trứng.
Buồng trứng Trâu cái có hai buồng trứng hình trái xoan, kích thước buồng trứng trâu thường nhỏ hơn so với buồng trứng bò cùng lứa tuổi và tầm vóc. Kích thước trung bình của buồng trứng ở trâu trưởng thành khoảng 4 cm x 3 cm x 1,5 cm, thay đổi tùy thuộc vào tuổi và giống. Buồng trứng có thể dễ dàng sờ thấy dọc theo phía bên cạnh sừng tử cung. Những người có kinh nghiệm có khả năng phát hiện các cấu trúc trên buồng trứng (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2008)[45].
Kích thước buồng trứng có biến động giữa các trâu cái, buồng trứng hoạt động thì lớn hơn buồng trứng không hoạt động. Buồng trứng có hai chức năng chính là sinh sản ra tế bào trứng và tiết các hormone tham gia điều khiển chu kỳ sinh sản của trâu cái. Trứng được hình thành ở buồng trứng từ những noãn bao nguyên thuỷ, đó là sự diễn biến nối tiếp giai đoạn phát triển khác nhau của nang trứng.