CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN, HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách nhà nước 1. Khái niệm về Ngân sách Nhà nước [8, Tr.25] Thuật ngữ “ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu: Quan niệm thứ nhất, ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Quan niệm này đúng về mặt hình thức, đã mô tả mặt thực thể vật chất của NSNN; tuy nhiên chưa thể hiện vị trí của NSNN. Quan niệm thứ hai, ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước. Quan niệm này đã mô tả mặt cụ thể, mặt vật chất của NSNN đồng thời thể hiện vị trí NSNN so với các quỹ tiền tệ khác. Tuy nhiên, quan niệm này cũng chưa thể hiện được nội dung kinh tế - xã hội của NSNN.
Quan niệm thứ ba, ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Quan điểm này đã nêu bật được NSNN chứa đựng các quan hệ kinh tế, tuy nhiên lại không nói lên được thực thể vật chất NSNN là gì? Điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2 năm 2002 cũng đưa ra khái niệm: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”.[1, Tr 1] Năm ngân sách (còn gọi là niên độ ngân sách hay năm tài chính hoặc tài khoá) mà trong đó, dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước đã được phê 7 chuẩn của Quốc hội có hiệu lực thi hành. Ở nước ta năm ngân sách bắt đầu tư ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm. * Bản chất của ngân sách nhà nước [7, Tr.45] - Trên góc độ khoa học: Ngân sách là phạm trù kinh tế - lịch sử - Trên góc độ kinh tế - xã hội: Ngân sách phản ánh tổng thể các quan hệ kinh tế - xã hội, thông qua quan hệ động viên các nguồn lực tài chính và phân phối các nguồn lực tài chính đó cho các mục tiêu kinh tế - xã hội.
- Trên góc độ nội dung vật chất: Ngân sách là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, được sử dụng để thực hiện các chức năng của Nhà nước. - Trên góc độ quản lý: Ngân sách là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước hay là bảng cân đối thu - chi chủ yếu của Nhà nước. - Trên góc độ pháp lý: Ngân sách là đạo luật tài chính cơ bản trong năm tài chính. Vai trò của ngân sách Nhà nước 1.
Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước [5, Tr 59] Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của ngân sách Nhà nước, để đảm bảo cho hoạt động của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, đòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định. Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế. Đây là vai trò lịch sử của ngân sách Nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà nước đều phải thực hiện. Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát [5, Tr 60] Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung - cầu và giá cả, thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường.
Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự 8 dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác. Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối. Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng, Nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả, thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính. Đồng thời, trong quá trình điều tiết thị trường, ngân sách nhà nước còn tác động đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát.
Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất [5, Tr 68] Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách. Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác Nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng, những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định. Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư [5, Tr 80] Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư.
Nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý, nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư. Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được 9 Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt … một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao. Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách Nhà nước như: chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội, phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp. Tổ chức hệ thống NSNN [8, Tr 46] Theo tinh thần của Luật NSNN, hệ thống NSNN ở nước ta bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (NSĐP) - Ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm: + Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh) + Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) + Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn ( gọi chung là ngân sách cấp xã) 1.
Ngân sách Nhà nước cấp huyện trong hệ thống NSNN [8, Tr. Khái niệm NSNN cấp huyện Ngân sách cấp huyện là quỹ tiền tệ tập trung của huyện được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi huyện. Đặc điểm của NSNN cấp huyện Ngân sách cấp huyện thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện: đó là mối quan hệ giữa ngân sách với các tổ chức, cá nhân trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của quận. Ngân sách cấp huyện không có bội chi ngân sách.
Vai trò của ngân sách cấp huyện Ngân sách cấp huyện có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng. Ngân sách huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách huyện Thu ngân sách huyện là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách huyện, đóng vai trò quan trọng, quyết định đến việc chi ngân sách huyện. Thu ngân sách huyện gồm các loại chính sau: các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách; các khoản thu ngân sách huyện hưởng 100% (các khoản thuế theo quy định, phí, lệ phí, thu thanh lý.); thu bổ sung ngân sách cấp trên; thu kết dư ngân sách và thu chuyển nguồn ngân sách.
Chi ngân sách huyện là việc Nhà nước cấp huyện phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước, đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế, xã hội theo những nguyên tắc nhất định. Chi ngân sách huyện gồm các khoản chi chủ yếu: chi đầu tư phát triển theo phân cấp, chi thường xuyên đảm bảo hoạt động của của bộ máy quản lý cấp huyện; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới; chi chuyển nguồn của huyện. Nội dung cơ bản về quản lý [9, Tr 71, 75, 80] 1. Khái niệm về quản lý ngân sách Theo Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế: “Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật” Như vậy chúng ta có thể hiểu : quản lý NSNN là hoạt động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý NSNN cấp huyện thông qua việc sử dụng các phương pháp quản lý và công cụ quản lý để tác động vào hoạt động của NSNN nhằm đặt được những mục tiêu đề ra.
Nội dung Quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 1.