phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về quản lý chi ngân sách cho giáo dục; Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách cho giáo dục tại quận Kiến An thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2015; Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách cho giáo dục tại quận Kiến An thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2020 4 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CHO GIÁO DỤC 1. Những vấn đề cơ bản về ngân sách Nhà nƣớc và chi ngân sách cho giáo dục 1. Ngân sách Nhà nước Trong từ điển tiếng Việt thông dụng định nghĩa: Ngân sách là tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Các nhà kinh tế ngƣời Nga lại quan niệm rằng: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.
Các chuyên gia kinh tế ngƣời Pháp thì cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nƣớc trong một năm. [14, tr13] Theo Luật NSNN số 01/2002/QH11 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. [12, tr4], [13] NSNN là một phạm trù kinh tế gắn liền nhằm duy trì hoạt động và phát triển đất nƣớc. Trên cơ sở này, NSNN ra đời cùng với sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc.
Để có thể thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nƣớc cần phải có những nguồn lực tài chính phục vụ việc chi tiêu. NSNN là dự toán thu - chi bằng tiền của Nhà nƣớc gồm kế hoạch thu, kế hoạch chi và đƣợc lập theo phƣơng pháp cân đối (đảm bảo thu đủ bù chi, chi không vƣợt thu) trong khoảng thời gian nhất định, thƣờng là một năm. Nói cách khác, NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nƣớc và xã hội. Nó hình thành trong quá trình Nhà nƣớc huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc.
[12, tr5] 5 Các mối quan hệ kinh tế này bao gồm: - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các DN SXKD. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị sự nghiệp công. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cƣ. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN và thị trƣờng tài chính.
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các hoạt động tài chính đối ngoại. Tóm lại, NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nƣớc với các tổ chức kinh tế xã hội và dân cƣ đƣợc hình thành trong quá trình Nhà nƣớc động viên, phân phối của cải xã hội dƣới hình thức giá trị nhằm xây dựng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc, trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu chi tiêu gắn liền với các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nƣớc. Chi ngân sách Nhà nước Theo Luật NSNN số 01/2002/QH11 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 quy định: “Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc; chi trả nợ của Nhà nƣớc; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”. [13] Quá trình phân phối và sử dụng quỹ của NSNN nhằm phục vụ cho việc duy trì sự tồn tại và các hoạt động bình thƣờng của bộ máy Nhà nƣớc gọi là chi NSNN.
Nói cách khác, chi NSNN là việc phân phối các nguồn tài chính tập trung trong NSNN và đƣa chúng tới những mục đích sử dụng cụ thể của Nhà nƣớc. Chi NSNN phải đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc theo những nguyên tắc nhất định. Trong bất kỳ bộ máy Nhà nƣớc nào cũng không thể thiếu hoạt động chi NSNN. Nó bao gồm chi thƣờng xuyên, chi đầu tƣ phát triển và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Nếu dự toán kế hoạch chi mà không đƣợc đảm bảo sẽ gây tình trạng trì trệ, làm cho nền kinh tế đất nƣớc không thể đứng vững, trật tự xã hội không ổn định. Chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục Chi NSNN cho giáo dục là khoản chi đƣợc lấy từ NSNN cấp cho các hoạt động liên quan tới sự nghiệp giáo dục. Hoạt động này gắn liền với cơ cấu, nhiệm vụ của Nhà nƣớc cho ngành giáo dục trong mỗi giai đoạn lịch sử và đƣợc xem xét ở các giác độ khác nhau. Nó nằm trong mối quan hệ giữa NSNN với đơn vị sự nghiệp công.
Chi NSNN cho giáo dục gồm: [12, tr11] * Chi thường xuyên - Các khoản chi cho con ngƣời: Chi lƣơng, tiền công, các khoản phụ cấp theo lƣơng, chi BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ, chi phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán bộ nhân viên, chi học bổng và trợ cấp cho học sinh. - Chi về quản lý hành chính, chi về công tác phí, công vụ phí, xăng xe, điện nƣớc, văn phòng phẩm, chi hội nghị về công tác quản lý. - Chi cho hoạt động chuyên môn: Chi mua tài liệu, đồ dùng giảng dạy và học tập chi hội thảo, hội giảng, chi cho các lớp bồi dƣỡng học sinh, bồi dƣỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn. - Chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhỏ phục vụ cho hoạt động chuyên môn nhƣ: Mua sắm bàn ghế, bảng và các trang thiết bị khác, sửa chữa nhỏ trong trƣờng… Ngoài ra, chi NSNN cho giáo dục còn là các khoản chi cho các đơn vị thực hiện các chƣơng trình mục tiêu giáo dục quốc gia nhƣ chƣơng trình phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, chƣơng trình tăng cƣờng cơ sở vật chất trƣờng học, chƣơng trình công nghệ giáo dục, ứng dụng thành quả khoa học công nghệ vào dạy học, cải tiến phƣơng pháp dạy học… * Chi đầu tư XDCB Tuỳ theo yêu cầu quản lý nội dung chi đầu tƣ XDCB đƣợc phân loại theo những tiêu thức khác nhau.
Xét theo hình thức tái sản xuất TSCĐ, chi đầu tƣ XDCB cho giáo dục đào tạo đƣợc phân thành: - Chi đầu tƣ xây dựng mới các TSCĐ phục vụ cho giáo dục đào tạo nhƣ các phòng học, thƣ viện, phòng thí nghiệm, nhà hiệu bộ, nhà để xe… 7 - Chi cải tạo, nâng cấp mở rộng các TSCĐ hiện có nhằm tăng thêm công suất và hiện đại hoá TSCĐ nhƣ nâng cấp trƣờng học, thƣ viện, xây thêm các lớp học… 1. Nguyên tắc quản lý chi ngân sách * Nguyên tắc quản lý chi theo dự toán Chi NSNN luôn phải đảm bảo nguyên tắc chi theo dự toán. NSNN đƣợc sử dụng đầu tƣ cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi một loại hoạt động sẽ có định mức riêng đƣợc xác định theo từng đối tƣợng, do đó mức chi từ NSNN cho các hoạt động là không giống nhau.
Bên cạnh đó, việc quản lý chi NSNN theo dự toán sẽ đảm bảo đƣợc cân đối ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành ngân sách, hạn chế tính tùy tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ở các đơn vị thụ hƣởng NSNN. Nguyên tắc quản lý chi NSNN theo dự toán đƣợc thể hiện: - Mọi khoản chi đƣợc dự kiến trong năm kế hoạch phải đƣợc xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở, thông qua các bƣớc xét duyệt của các cơ quan thẩm quyền từ thấp đến cao. - Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi NSNN, mỗi cấp ban ngành phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã đƣợc duyệt mà phân bổ và sử dụng các khoản chi, phải hạch toán theo đúng mục lục ngân sách. - Định kỳ theo chế độ quyết toán kinh phí đã quy định, các ngành, các cấp, các đơn vị khi phân tích đánh giá kết quả thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy dự toán làm căn cứ đối chiếu, so sánh.
* Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu không chỉ của chi NSNN mà của mọi hoạt động quản lý kinh tế tài chính nói chung. Mọi nguồn lực đều có giới hạn nhƣng nhu cầu thì vô hạn; nếu không thực hiện nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả thì nguồn lực sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Nguồn thu NSNN hàng năm là có hạn nhƣng nhu cầu chi NSNN luôn tăng nhanh so với khả năng huy động các nguồn thu. Chính vì vậy, chi NSNN 8 phải luôn tính toán sao cho chi phí ít nhất nhƣng hiệu quả đạt đƣợc phải là tốt nhất.
Việc chi NSNN thực hiện nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả thể hiện trong công tác xây dựng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với tình hình thực tế của sự phát triển kinh tế. * Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước KBNN thực hiện chức năng quản lý NSNN, vừa có quyền, vừa có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi. Do đó, việc chi NSNN qua KBNN là phƣơng thức thanh toán có sự tham gia của đơn vị sử dụng NSNN, KBNN và tổ chức, cá nhân đƣợc nhận các khoản tiền do đơn vị sử dụng NSNN ủy quyền KBNN trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển trả vào tài khoản của tổ chức, cá nhân đƣợc hƣởng. Các khoản chi NSNN đảm bảo nguyên tắc này: - Tất cả các khoản chi NSNN phải đƣợc kiểm tra trƣớc, trong và sau quá trình cấp phát thanh toán.
Các khoản chi NSNN phải có trong dự toán đƣợc duyệt, đúng tiêu chuẩn, đúng định mức do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quy định và phải đƣợc thủ trƣởng đơn vị sử dụng NSNN duyệt chi. - Tất cả đơn vị sử dụng nguồn kinh phí chi NSNN phải mở tài khoản ở KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN. - Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm xem xét dự toán chi NSNN của các đơn vị cùng cấp sử dụng chi ngân sách. - KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN cho giáo dục theo đúng quy định.
Nội dung công tác quản lý chi ngân sách cho giáo dục 1.