Khóa Luận Tốt Nghiệp: Biện Pháp Cưỡng Chế Trừ Vào Thu Nhập Để Thi Hành Án Dân Sự

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án dân sự những vấn đề lý luận và thực, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

89
7
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1. Cưỡng chế thi hành án dân sự

1.1.1. Khái niệm

1.2. Nguyên tắc áp dụng

1.3. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án dân sự

1.4. Khái quát về thi hành nghĩa vụ trả tiền

1.5. Khái niệm biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án dân sự

1.6. Đặc điểm biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án dân sự

1.7. Phân biệt cưỡng chế trừ vào thu nhập trong thi hành án dân sự với cưỡng chế trừ vào thu nhập trong cưỡng chế hành chính

1.8. Ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

1.9. Pháp luật một số nước trên thế giới về cưỡng chế thi hành án dân sự

1.10. Thẩm quyền tiến hành cưỡng chế thi hành án dân sự

1.11. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

1.12. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRỪ VÀO THU NHẬP ĐỂ THI HÀNH ÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

2.1. Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án

2.2. Đối tượng áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập để thi hành án

2.3. Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án

2.4. Thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án

2.5. Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án

2.6. Các thu nhập của người phải thi hành án có thể bị cưỡng chế trừ vào thu nhập

2.7. Mức trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

2.8. Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án

2.9. Xác minh điều kiện thi hành án

2.10. Ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

2.11. Thi hành quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

2.12. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TRỪ VÀO THU NHẬP ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN NAY VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

3.1. Những kết quả đạt được trong áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án dân sự tại Việt Nam trong thời gian qua

3.2. Những vướng mắc gặp phải trong quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án dân sự

3.3. Những bất cập, hạn chế từ các quy định của pháp luật khi áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án dân sự

3.4. Nguyên nhân gây vướng mắc khi áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập

3.5. Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án dân sự

3.5.1. Về thể chế

3.5.2. Nâng cao năng lực cơ quan thi hành án

3.5.3. Nâng cao năng lực của đội ngũ Chấp hành viên

3.5.4. Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự

3.5.5. Tăng cường phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan hữu quan trong việc áp dụng pháp luật thi hành án dân sự

3.5.6. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự đảm bảo thực hiện pháp luật thi hành án dân sự nghiêm minh

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập trong thi hành án dân sự

Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập trong thi hành án dân sự là một trong những phương thức quan trọng nhằm đảm bảo thực thi các bản án, quyết định của Tòa án. Biện pháp cưỡng chế này không chỉ thể hiện quyền lực của Nhà nước trong việc thi hành án mà còn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Việc áp dụng biện pháp này cần tuân thủ các quy định pháp luật, đảm bảo tính hợp pháp và công bằng trong quá trình thực hiện. Theo đó, cơ quan thi hành án có quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế nếu người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án.

1.2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế

Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự bao gồm: tính hợp pháp, công bằng, và minh bạch. Cơ quan thi hành án phải đảm bảo rằng mọi hành động cưỡng chế đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, không gây thiệt hại cho người phải thi hành án. Bên cạnh đó, việc thông báo rõ ràng về quyết định cưỡng chế cũng là một nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Nguyên tắc này giúp tăng cường lòng tin của nhân dân đối với hệ thống pháp luật và Nhà nước.

II. Nội dung và quy trình thực hiện biện pháp cưỡng chế

Nội dung và quy trình thực hiện biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập bao gồm nhiều bước quan trọng. Đầu tiên, cơ quan thi hành án cần xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Sau đó, cơ quan này sẽ ra quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập, thông báo cho người phải thi hành án về quyết định này. Việc thực hiện quyết định cưỡng chế sẽ diễn ra thông qua các hình thức như trừ vào lương, thu nhập từ các nguồn khác. Quy trình này cần được thực hiện một cách nghiêm túc và minh bạch, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người phải thi hành án.

2.2. Quy trình thực hiện biện pháp cưỡng chế

Quy trình thực hiện biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập bao gồm các bước: xác minh điều kiện thi hành án, ra quyết định cưỡng chế, thông báo cho người phải thi hành án, và thực hiện việc khấu trừ thu nhập. Mỗi bước cần được thực hiện cẩn thận, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Việc thực hiện cưỡng chế cần được giám sát chặt chẽ để tránh các sai sót có thể xảy ra, gây thiệt hại cho người phải thi hành án.

III. Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập

Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập tại Việt Nam đã cho thấy nhiều kết quả tích cực, đồng thời cũng bộc lộ một số vướng mắc trong quá trình thực hiện. Các cơ quan thi hành án đã áp dụng biện pháp này để xử lý nhiều trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp người phải thi hành án tìm cách trốn tránh, gây khó khăn cho việc thực hiện cưỡng chế. Do đó, việc nâng cao năng lực của các cơ quan thi hành án và cải thiện quy trình cưỡng chế là rất cần thiết.

3.2. Những vướng mắc và giải pháp

Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn tồn tại nhiều vướng mắc như việc xác minh điều kiện thi hành án gặp khó khăn, hoặc người phải thi hành án cố tình trốn tránh. Để khắc phục những vấn đề này, cần có các giải pháp như nâng cao năng lực cho đội ngũ chấp hành viên, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên quan và đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ của các bên trong thi hành án. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập trong thời gian tới.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cưỡng chế thi hành án dân sự. - Chương 2: Nội dung biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam. - Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập để thi hành án dân sự hiện nay và đề xuất giải pháp hoàn thiện. 6 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƢỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.

Cƣỡng chế thi hành án dân sự 1. Khái niệm Quá trình bảo vệ quyền, lợi ích của các cá nhân trong hoạt động tố tụng được thực hiện trong nhiều giai đoạn khác nhau. Việc giải quyết một vụ việc tại Tòa án tuy rất quan trọng nhưng đây mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân. Trong giai đoạn này, tòa án chỉ làm các tình tiết của vụ việc và áp dụng các quy phạm pháp luật quyết định quyền và nghĩa vụ của các cá nhân.

Quyền và nghĩa vụ của các cá nhân trong vụ án được tòa án, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh quyết định muốn trở thành hiện thực thì phải thông qua thi hành án, cụ thể ở đây là thi hành án dân sự. Thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp vì xét xử, giải quyết tranh chấp và thi hành án dân sự là hai mặt của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Xét xử, giải quyết tranh chấp là tiền đề của thi hành án dân sự, không có xét xử thì không có thi hành án dân sự. Thi hành án dân sự tiếp nối với xét xử làm cho bản án, quyết định có hiệu lực trên thực tế.

Như vậy có thể hiểu, thi hành án dân sự là một dạng hoạt động tư pháp trong việc thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án và các quyết định của các cơ quan, tổ chức khác được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật. Hay nói cách khác, thi hành án dân sự là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các đương sự đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành. Thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh để hiện thực hóa hiệu lực pháp luật của các các bản án, quyết định đó trên thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc đảm bảo trật tự trong lĩnh vực dân sự nói riêng và đời sống xã hội nói chung [2]. Thông qua thi hành án dân sự, người phải thi hành án phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản của họ và người được thi hành án dân sự sẽ nhận 7 được các quyền, lợi ích về tài sản.

Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự được khẳng định “là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho bản án, quyết định của tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước” [15]. Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Do vậy, việc tự nguyện thi hành án của các đương sự được coi là biện pháp quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự. Thi hành án dân sự có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội.

Theo đó, bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị- xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Mặt khác, thi hành án dân sự giúp phát hiện ra những khiếm khuyết của các quy định của pháp luật, trên cơ sở đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung, đồng thời kiểm tra lại quá trình xét xử trước đó để rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xét xử. Ngoài ra, thi hành án dân sự có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân; nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, tạo niềm tin của của người dân vào tính nghiêm minh của pháp luật, củng cố quyền lực nhà nước. Như vậy, sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực, người phải thi hành án phải có trách nhiệm thực hiện những nội dung đã tuyên trong bản án, quyết định đó.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án mặc dù có điều kiện thi hành án nhưng vẫn không tự nguyện thi hành trong thời hạn mà cơ quan thi hành án đã ấn định, tìm cách trì hoãn, trốn tránh việc thi hành án. Trong những trường hợp này, để 8 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh thì việc cưỡng chế thi hành án là hết sức cần thiết. Theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án do chấp hành viên ấn định, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không thi hành án, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì chấp hành viên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự bao gồm: (1) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; (2) Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; (3) Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; (4) Khai thác tài sản của người phải thi hành án; (5) Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; (6) Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.

[24, Điều 71] Trong từ điển chữ Nôm có giải nghĩa, “cưỡng” là thúc ép, buộc tuân theo ý chí của mình, “chế” là kìm giữ. Như vậy cưỡng chế là một từ ghép được tạo bởi hai từ có nghĩa nêu trên. Cưỡng chế có thể được hiểu là thúc ép, buộc ai đó phải thực hiện theo. Năm 2001, Nhà xuất bản Thanh niên cho xuất bản cuốn từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học có định nghĩa “Cưỡng chế là việc dùng quyền lực nhà nước bắt buộc người khác phải tuân theo” [29].

Còn về mặt thuật ngữ pháp lý, theo cuốn Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa phát hành năm 1999 thì cưỡng chế là “các biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” [17]. Cũng trong từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2006 thì cưỡng chế là “việc buộc cá nhân hay tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, hay thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chỉ tổ chức hay cá nhân được pháp luật quy định mới được ra quyết 9 định cưỡng chế và quyết định lực lượng cưỡng chế. Cưỡng chế phải được tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ.

Cá nhân hay tổ chức là đối tượng cưỡng chế có thể bị buộc phải làm hay không được làm một việc nhất định về quyền tài sản hay quyền nhân thân. Biện pháp sử dụng trong cưỡng chế là bạo lực về mặt vật chất hoặc tinh thần, thường được áp dụng khi quyết định đã có hiệu lực không được thực hiện một cách tự nguyện” [18]. Như vậy, các ý kiến không hoàn toàn đồng nhất về khái niệm cưỡng chế, tuy nhiên có thể thấy rằng nói đến cưỡng chế là nói đến việc dùng quyền lực nhà nước, áp đặt ý chí của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân nhất định để buộc tổ chức, cá nhân đó phải thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định theo ý chí của Nhà nước. Quyền lực nhà nước được sử dụng với nhiều phương thức khác nhau, theo nhiều lĩnh vực thông qua những biện pháp nhất định và do chủ thể nhất định tiến hành.

Chủ thể đó có thể là công chức nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức khác được Nhà nước trao quyền tiến hành cưỡng chế. Tuy nhiên, việc dùng quyền lực nhà nước để cưỡng chế cũng phải được thực hiện trên cơ sở các quy định cụ thể của pháp luật, với phương thức thực thi pháp luật phù hợp. Để bảo đảm thực thi pháp luật, ngoài phương thức giáo dục, thuyết phục mọi chủ thể tự giác tuân thủ, bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng sức mạnh cưỡng chế bằng pháp luật. Cưỡng chế là khái niệm thuộc phạm trù Nhà nước và pháp luật, là hiện tượng gắn liền với Nhà nước [3].

Quyền lực nhà nước là quyền lực dựa trên sức mạnh của Nhà nước, khả năng sử dụng Nhà nước thực hiện ý chí của giai cấp thống trị buộc xã hội phải phục tùng ý chí đó; quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị được thực hiện bằng Nhà nước và là trung tâm của quyền lực chính trị bởi vì Nhà nước là tổ chức rộng lớn nhất, bao trùm lên toàn bộ xã hội, quản lý mọi tầng lớp dân cư trong phạm vi lãnh thổ của mình [3]. Như vậy, cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước buộc tổ chức, cá nhân nhất định phải tuân theo, đó là một phương thức sử dụng và bảo đảm cho 10 quyền lực nhà nước được thực hiện bởi biện pháp nhất định và do chủ thể có thẩm quyền tiến hành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài khóa luận tốt nghiệp mang tiêu đề Khóa Luận Tốt Nghiệp: Biện Pháp Cưỡng Chế Trừ Vào Thu Nhập Để Thi Hành Án Dân Sự của tác giả Hoàng Thanh Ngọc dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Công Thịnh tại Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung vào việc phân tích các biện pháp cưỡng chế thu nhập trong việc thi hành án dân sự. Bài viết không chỉ làm rõ những vấn đề lý luận xung quanh biện pháp này mà còn cung cấp cái nhìn thực tiễn về hiệu quả và những thách thức trong quá trình thực hiện. Độc giả sẽ được trang bị kiến thức cần thiết để hiểu rõ hơn về quy trình thi hành án dân sự cũng như các biện pháp cưỡng chế, từ đó có thể áp dụng trong thực tiễn hoặc nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về xác định đương sự trong vụ án dân sự tại Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội, nơi đề cập đến quy trình xác định đương sự trong các vụ án dân sự, một khía cạnh quan trọng trong thi hành án. Bên cạnh đó, Luận Văn Thạc Sĩ Về Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động Theo Bộ Luật Lao Động Năm 2019 cũng mang lại cái nhìn về các quy định pháp lý liên quan đến hợp đồng lao động, có thể ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động trong bối cảnh thi hành án. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về thương lượng tập thể: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện sẽ giúp độc giả hiểu rõ hơn về các phương thức thương lượng trong luật pháp Việt Nam, liên quan đến việc giải quyết tranh chấp và thi hành án. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm nhiều góc nhìn và kiến thức sâu sắc về lĩnh vực luật và thi hành án dân sự.