Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khung lý thuyết Trong nghiên cứu khoa học hiện nay nói chung và trong nghiên cứu văn hóa học nói riêng, lý thuyết được xem là nền tảng, là cơ sở lý luận cho mọi vấn đề cần nghiên cứu. Bởi lẽ, mỗi lý thuyết đều có giá trị và đã được thừa nhận thông qua quá trình nghiên cứu. Do đó, trong quá trình nghiên cứu việc lựa chọn nhóm lý thuyết thích hợp để áp dụng cho mỗi công trình nghiên cứu là rất quan trọng.
Các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa Từ thế kỷ XX, các nước phương Tây đã phát triển mạnh mẽ các lý thuyết địa lý học văn hóa (cultural geography) và sinh thái học văn hóa (cultural ecology) qua đó góp phần lý giải hình thành, biến đổi văn hóa đồng thời xác định vai trò của một nhân tố quan trọng là môi trường địa lý tự nhiên trong hệ thống văn hóa. Đi đầu trong việc nghiên cứu các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa là Carl Ortwin Sauer (1889 - 1975, nhà địa lý học người Mỹ). Dưới thời Sauer, trong địa lý học rất phổ biến lý thuyết “quyết định luận môi trường (environmental determinism)” và ông bày tỏ thái độ không đồng thuận với lý thuyết ấy một cách gay gắt. Theo Carl Ortwin Sauer (1925): “Trong mỗi cảnh quan, có những hiện tượng không đơn giản có mặt ở đó nhưng có liên đới hoặc độc lập nhau.
Nhiện vụ của địa lý học được quan niệm là thiết lập một hệ thống có tính cách quyết định bao gồm các hiện tượng cảnh quan nhằm nắm bắt tất cả ý nghĩa của nó và tạo màu sắc cho quang cảnh đa dạng trên mặt đất” 10 Từ đó, ông đưa ra hướng tiếp cận mới là “hình thái của cảnh quan (landscape morphology)” hay “lịch sử văn hóa (cultural history)”. Trong đó, ông chỉ rõ cách tiếp cận trong lý thuyết này đó là không phải môi trường tự nhiên quyết định văn hóa mà văn hóa được quyết định bởi những nhân tố khác như: sự tác động của con người, các dữ liệu thực tế, thời gian”. Từ lý thuyết ấy, chúng tôi đưa ra những định hướng trong quá trình nghiên cứu đề tài. Sự biến đổi nghề nghiệp mưu sinh của người Khmer có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động bên cạnh yếu tố môi trường tự nhiên.
Học giả tiếp theo có thể kể đến là Julian Haynes Steward (1902 - 1972) nhà nhân học người Mỹ. Theo Lý Tùng Hiếu (2019): “Ông đã đưa ra các khái niệm và phương pháp của sinh thái học văn hóa, biến đổi văn hóa. Tác giả cho rằng sinh thái học văn hóa là khoa học miêu tả những cách thức mà trong đó sự thích ứng với môi trường đã gây ra sự biến đổi văn hóa”. Julian Haynes Steward đã sử dụng phương pháp luận về tiến hoá đa tuyến để khảo sát môi trường và xem chúng ảnh hưởng như thế nào đến văn hóa.
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi cũng mang ý nghĩa đó. Việc thích ứng, cải biến môi trường sẽ làm biến đổi nghề nghiệp mưu sinh của người Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Việc vận dụng một số lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa sẽ phần nào giúp chúng tôi làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của mình. Các lý thuyết tiếp biến văn hóa Các nhà nhân học, xã hội học, tâm lý học, triết học phương Tây đã công bố các công trình nghiên cứu về các lý thuyết tiếp biến văn hóa vào thế kỷ XX.
Theo Lý Tùng Hiếu (2019a): 11 “William Isaas Thomas và Florian Witold Znaniecki, đã nêu lên phác họa ba dạng thức tiếp biến văn hóa tương ứng với ba loại hình nhân cách: Thứ nhất, chấp nhận nền văn hóa chủ nhà và từ bỏ nền văn hóa gốc. Thứ hai, không chấp nhận nền văn hóa chủ nhà nhưng vẫn giữ được nền văn hóa gốc. Thứ ba, có khả năng thích ứng với nền văn hóa chủ nhà trong khi vẫn giữ được nền văn hóa gốc”.54) Đây là ba dạng thức tiếp biến văn hóa mà bất cứ nền văn hóa nào trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa cũng có khả năng rơi vào đánh giá sự biến đổi trong nghề nghiệp mưu sinh của người Khmer. Tiếp biến văn hóa là cả một quá trình.
Chính vì thế, trong tiếp biến văn hóa cần phải có chiến lược tiếp biến văn hóa. Theo Lý Tùng Hiếu (2019a): “Đại diện cho lý thuyết tiếp biến văn hóa là John W.Berry, với mô hình “Four - fold” (bốn nếp gấp) của chiến lược tiếp biến văn hóa. Trong đó: Sự đồng hóa: xảy ra khi các cá nhân chấp nhận các chuẩn mực văn hóa của nền văn hóa chiếm ưu thế hoặc văn hóa chủ nhà, vượt lên văn hóa gốc của mình. Sự ngăn cách: xảy ra khi các cá nhân từ chối nền văn hóa chiếm ưu thế hoặc văn hóa chủ nhà trong thiện ý bảo tồn văn hóa gốc của mình.
Sự hòa nhập: xảy ra khi các cá nhân có thể chấp nhận các chuẩn mực văn hóa của nền văn hóa chiếm ưu thế hoặc văn hóa chủ nhà trong khi duy trì văn hóa gốc của mình. Sự cô lập: xảy ra khi các cá nhân từ chối cả nền văn hóa gốc của họ và nền văn hóa chiếm ưu thế hoặc văn hóa chủ nhà”.54) Lý thuyết này rất hữu ích trong việc nghiên cứu đề tài của chúng tôi. Bốn nếp gấp nêu trên sẽ góp phần giúp chúng tôi có thể đánh giá sự biến đổi trong hoạt động mưu sinh của người Khmer với những mức độ khác nhau. Ở Việt Nam, việc vận dụng các lý thuyết tiếp biến văn hóa vào các công trình nghiên cứu, giảng dạy về văn hóa học hiện nay là phổ biến.
Cụ thể: Theo Phạm Đức Dương (2011): 12 “Tiếp xúc văn hóa giúp phát hiện những dấu ấn, những yếu tố văn hóa nội sinh và ngoại sinh tác động lẫn nhau. Trong văn hóa Việt Nam, các yếu tố ngoại sinh được Việt Nam hóa, các yếu tố ngoại sinh được hiện đại hóa. Văn hóa dân gian và văn hóa bác học không tách rời nhau như quan điểm nhị nguyên. Thí dụ, dòng nhạc trữ tình trước đây bị cấm, nay tồn tại song hành với dòng nhạc hành khúc, trong khi âm nhạc dân tộc được hiện đại hóa.
Tính dân tộc và tính hiện đại có cả trong các yếu tố nội sinh và các yếu tố ngoại sinh”. Lý thuyết về tiếp biến văn hóa sẽ cần thiết trong quá trình nghiên cứu sự biến đổi về văn hóa mưu sinh của người Khmer. Các lý thuyết hệ thống Lý thuyết hệ thống xuất phát từ những công trình nghiên cứu của các học giả phương Tây từ thế kỷ XX, điển hình là các học giả như: Ferdinand de Saussure (Thụy Sĩ, 1875 - 1913), Leslie Alvin White (Mỹ, 1900 - 1975), Claude Lévi - Strauss (Pháp, 1908 - 2009)…Trong đó, chức năng luận của Bronislaw Kasper Malinowski được xem là một trong những luận điểm trọng yếu để nhằm lý giải cho vấn đề văn hóa thực hiện chức năng đáp ứng nhu cầu của cá nhân hơn là của toàn xã hội.Wright Mills (2006): “Malinowski xem tất cả các thể chế của một xã hội như là có liên quan lẫn nhau về nội tại, và ông nhấn mạnh ý là mọi hiện tượng xã hội hoặc văn hóa phải được nghiên cứu trong toàn bộ văn cảnh của nó. Ông cũng cho rằng các nhu cầu bẩm sinh của con người là động lực trong sự phát triển các thể chế xã hội” (tr.
Từ việc kế thừa lý thuyết hệ thống từ các học giả phương Tây, các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Cụ thể, có nhiều mô hình cấu trúc văn hóa và phổ biến nhất là loại cấu trúc văn hóa ba thành phần như: Theo Trần Ngọc Thêm (2014): 13 “Các cấu trúc ba thành phần như văn hóa kinh tế - xã hội - trí thức [Đào Duy Anh 1938/1951], văn hóa vật chất - tinh thần - xã hội [Văn Tân (cb) 1973], văn hóa sản xuất – vũ trang – sinh hoạt [Trần Quốc Vượng (cb) 1996] hay tam phân văn hóa nhận thức – tổ chức - ứng xử là một mô hình cấu trúc văn hóa phân loại theo hoạt động”. 61- 62) Các lý thuyết đã được các học giả nước ngoài và các nhà khoa học Việt Nam công bố, cho thấy rằng văn hóa luôn vận động và biến đổi trong những môi trường nhất định. Mỗi học giả, nhà khoa học nói trên do tiếp xúc với nhiều môi trường văn hóa khác nhau nên đã hình thành nên nhiều mô hình cấu trúc văn hóa khác nhau.
Từ đó, lựa chọn của chúng tôi là vận dụng một mô hình hệ thống văn hóa với ba thành tố cơ bản: chủ thể văn hóa; văn hóa vật thể; văn hóa phi vật thể, hình thành và vận động trong một môi trường văn hoá gồm không gian văn hoá và giao lưu tiếp biến văn hoá. Theo Lý Tùng Hiếu (2019b): “Chủ thể văn hóa: bao gồm các tộc người, các cộng đồng người cư trú trong mộ không gian văn hóa và có các hoạt động văn hóa, truyền thống văn hóa góp phần làm nên các đặc trưng văn hóa của không gian ấy. Văn hóa vật thể: bao gồm những hoạt động văn hóa có thể tiếp xúc được, như văn hóa mưu sinh, văn hóa ẩm thực, văn hóa phục sức, văn hóa cư trú, văn hóa kiến trúc, văn hóa giao thông…(tr. Văn hóa phi vật thể: là những yếu tố văn hóa không thể tiếp xúc và tương tác trực tiếp như văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa tín ngưỡng, văn hóa phong tục, văn hóa lễ hội, văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, văn hóa giao tiếp…”.
Khung khái niệm 1. Khái niệm văn hóa Từ “văn hóa” vốn dĩ mang rất nhiều nghĩa khác nhau như: văn hóa nông nghiệp, văn hóa chính trị, văn hóa kinh doanh, văn hóa đại chúng, văn hóa dân gian, văn hóa trang phục…Từ “văn hóa” trở thành thuật ngữ khoa học vào cuối thế kỷ 14 XIX, tuy nhiên khái niệm này đã được các nhà khoa học diễn giải với nhiều ý nghĩa khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo Lý Tùng Hiếu (2019): “Trong công trình The Sage Dictionary of Cultural Studies (Từ điển Sage về văn hóa học, 2004) Chris Barker (2004: 44 – 45) đã tóm lược lịch sử biến đổi nhận thức về khái niệm “culture” / “văn hóa” như sau: Văn hóa là một từ phức tạp và gây tranh cãi vì khái niệm này không đại diện cho một thực thể trong một thế giới vật chất độc lập.