Chương 1 TONG QUAN LICH SU VAN DE, PHUONG PHAP NGHIEN CUU VA DIA BAN NGHIEN CUU 1. Tông quan lich sử van dé Nghiên cứu về làng xã, về nông thôn ở Việt Nam nói chung và nghiên cứu về làng xã, nông thôn ở châu thé Bắc Bộ nói riêng không còn là một chủ đề mới, nó đã có quá trình nghiên cứu từ rất sớm và đạt được nhiều thành tựu, đóng góp cho khoa học và thực tiễn. Chủ đề này đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế, thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau dé cùng hiểu về về làng xã và nông thôn ở Việt Nam, đó là: lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội học, nhân học, dân tộc học, tôn giáo học, luật học. Mặc dù thời gian và thành tựu nghiên cứu về làng xã, nông thôn ở Việt Nam đã có bề dày với nhiều công trình đã xuất bản, nhưng không vì thế mà thiếu dư địa, hay gặp hạn chế trong đóng góp cho khoa học và thực tiễn, trong bối cảnh hiện nay, còn nhiều chiều cạnh, góc nhìn khác của làng xã và nông thôn Việt Nam vẫn cần được nghiên cứu và lý giải, trong đó đặc biệt quan tâm đến khía cạnh biến đổi của làng xã, của nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đã và đang diễn ra, trong đó tập trung vào các làng xã và vùng nông thôn ven các đô thị lớn.
Nhìn lại những nghiên cứu về làng xã và nông thôn Việt Nam dưới góc độ là một thực thé "tĩnh" hiện diện trong quá khứ, đã cho thay lực lượng tham gia và các công trình xuất bản rất nhiều, thành tựu này là nền tảng học thuật và tư liệu giúp cho giới nghiên cứu trong và ngoài nước hiểu sâu hơn về làng xã, về nông thôn ở Việt Nam trong lịch sử. Đồng thời, đó cũng là co sở dé hiểu về những biến đổi của làng xã, của nông thôn Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, một số công trình nghiên cứu đã ra đời như: Pierre Gourou với tác phẩm Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ [26]; Phan Kế Bính với công trình Việt Nam phong tục [7]. Sau năm 1945, một số công trình cũng được xuất bản như: Nguyễn 12 Hồng Phong đã viết cuốn Xã thôn Việt Nam [72]; sau đó là công trình của Phan Huy Lê, Chế độ ruộng dat và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ [59]; cuối những năm 60 (thế ky XX), tác giả Toan Ánh đã cho ra đời bộ Nếp cũ gồm 6 tập: Hội hè đình dam; Tín ngưỡng Việt Nam; Con người Việt Nam và Làng xóm Việt Nam [2].
Đễn năm 1968, Nhat Thanh đã cho xuất bản công trình Phong tục làng xóm Việt Nam [84] (in lần đầu năm 1968, in lại năm 2005). Năm 1975, đất nước thống nhất, những nghiên cứu về làng xã, về nông thôn Việt Nam tiếp tục được nghiên cứu, trong đó có các công trình như Viện Sử học: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập, 1977, 1978) [102] [103]; Viện Sử học: Nông dân và nông thôn Việt Nam thời Cận đại (2 tap, 1990, 1992) [104] [105]. Đóng góp vào thành tựu nghiên cứu về làng xã, về nông thôn Việt Nam trước khi tiếp cận những biến đổi của nó, đã có những công trình mang tầm cỡ như của Trần Từ: Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ [96], Hà Van Tan: Làng, liên làng và siêu làng - Máy suy nghĩ về phương pháp [83]. Nguyễn Quang Ngọc: Về một số làng buôn ở dong bằng Bắc Bộ thé kỷ XVIII - XIX [66], Phan Đại Doãn - Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử [18], Phan Đại Doãn, Làng xã Việt Nam một số van dé kinh tế-văn hóa-xã hội [19].
cùng nhiều nghiên cứu khác đã được công bồ. Cùng với các học giả trong nước, thì những nghiên cứu của các nhà Việt Nam học nước ngoài về làng xã, nông thôn ở Việt Nam trước Đổi mới đã cho thay mức độ quan tâm và những đóng góp nhất định về học thuật trong chủ đề này. Trong những năm 60 (thế kỷ XX), một số nhà Việt Nam học nước ngoài đã công bố những nghiên cứu về làng xã ở Nam Bộ Việt Nam. Trước hết, phải ké tới hai công trình nghiên cứu về làng Khánh Hậu đó là: G.
Hickey, Village in Vietnam [112] (Làng ở Việt Nam), va James B. Hendry, The Small World of Khanh Hau [114] (Làng Khánh Hậu một thé giới nhỏ). Các nghiên cứu này đã phân tích nhiều chiều cạnh, cấu trúc của làng xã Nam Bộ, với mục đích hiểu làng xã, nông thôn Nam Bộ dé phục vụ quá trình thực dân ở Việt Nam. Đến cuối những năm 70 (thé ky XX), nhiều nhà Việt Nam học quốc tế đã thảo luận xung quanh người nông dân và làng 13 xã ở Đông Nam châu Á, trong đó có Việt Nam, với đại diện tiêu biểu của hai trường phái là kinh tế đạo đức và kinh tế chính trị, trong đó có James C.
Scott, The Moral Economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia [115] (Kinh tế dao đức của người nông dân: Sự phan kháng và mưu sinh ở Đông Nam A), va Samuel L. Popkin, The Rational Peasant: The Political Economy of Rural Social in Vietnam [117] (Người nông dân duy lý: Kinh tế chính trị của xã hội nông thôn ở Việt Nam). Sau khi hai công trình này xuất bản, nó đã thu hút nhiều học giả quốc tế quan tâm và thảo luận sôi nổi. Cuộc tranh luận đó đã diễn ra trên Journal of Asian Studies (Tạp chí Nghiên cứu châu Á), với các bài đăng trên Vol XLII, No 4, August, 1983, như: Charles F.
Keyes, Peasant Strategies in Asian Societies: Moral and Rational Economic Approaches - A Symposium [110] (Những chiến lược của người nông dân trong xã hội chau A: Một chuyên luận với những tiếp cận kinh tế dao đức và kinh tế duy lý); David Feeny, The Moral or the Rational Peasant? Competing Hypotheses of Collective Action [111] (Kinh tế đạo đức hay kinh tế duy lý của người nông dân? Những giả thuyết tranh luận về hình thức sản xuất tập thé); Pierre Brocheux, Moral Economy or Political Economy? The Peasants are Always Rational [116] (Kinh tế đạo đức hay kinh tế chính tri? Những người nông dân luôn duy lý). Tác giả Benedict Kerkvliet đã thiên về nghiên cứu làng xã, nông thôn ở Việt Nam dưới góc độ chính trị học, với những mối liên hệ của làng xã và Nhà nước thời kỳ trước Đổi mới, trong số những nghiên cứu của ông có thé ké tới công trình: The Power of Everyday Politics: How Vietnamese Peasants Transformed National Policy [109] (Sức mạnh của chính tri thường nhật: Những người nông dân Việt Nam đã thay đổi chính sách quốc gia như thé nào). Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác của các học giả quốc tế về làng xã và nông thôn Việt Nam trước Đồi mới. Các nghiên cứu nêu trên, không trực tiếp xem xét quá trình biến đồi của làng xã, của nông thôn Việt Nam trong bối cảnh Đổi mới đất nước, nhưng kết quả nghiên cứu đó đã cho thấy rõ lịch sử hình thành, kết cấu kinh tế, tổ chức xã hội và sinh hoạt văn hóa của của làng xã và nông thôn Việt Nam trong quá khứ.
Đó là cơ sở khoa học có giá trị dé vận dụng vào tiép tục tìm hiéu về những biên đôi của làng 14 xã và nông thôn Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới. Những đóng góp học thuật của các nhà Việt Nam học nước ngoài về làng xã và nông thôn Việt Nam trước Đồi mới đã có giá trị khoa học cao, đồng thời bổ sung thêm các lý thuyết tiếp cận. Những tìm hiểu về biến đổi của làng xã, nông thôn Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu được công bố, tác giả luận án không thé bao quát toàn bộ các nghiên cứu đó, nên trong nội dung này NCS chỉ tập trung vào một số công trình tiêu biểu, có liên quan trực tiếp đến nội dung luận án, đó là các công trình nghiên cứu về làng xã, về nông thôn thuộc vùng châu thé Bắc Bộ, đặc biệt là vùng nông thôn ven đô Hà Nội và được nhắn mạnh vào ba chiều cạnh liên quan trực tiếp đến kết cấu nội dung của luận án, cụ thé như sau: 1. Những nghiên cứu về biến đổi kinh tế, 2.
Những nghiên cứu về biến đổi xã hội; 3. Những nghiên cứu về biến đổi văn hóa. Những nghiên cứu về biến déi kinh tế làng xã ở nông thôn ven đô Hà Nội và châu thổ sông Hồng Từ các điểm nghiên cứu như: Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội), Bát Tràng (Gia Lâm, Hà N61), Tam Sơn (Từ Sơn, Bắc Ninh), Văn Môn (Yên Phong, Bắc Ninh), Nam Giang (Nam Truc, Nam Định). công trình do Tô Duy Hợp chủ biên, Sw biến đổi của lang - xã Việt Nam ngày nay ở dong bằng sông Hong [49], đã đề cập tới nhiều nội dung của nông thôn châu thé Bắc Bộ như: Những tác động trực tiếp của quá trình đôi mới tới kinh tế nông thôn; xu hướng vận động của các quan hệ kinh tế nông thôn; những biến đổi trong hệ thống giá trị - chuẩn mực văn hóa; sự biến đổi văn hóa trong phạm vi gia đình và dòng họ; sự biến đổi trong hệ thống quản lý làng - xã; những chuyên đôi đáng ké của các quan hệ xã hội cơ bản trong làng - xã đồng bằng sông Hồng dưới tác động của quá trình đổi mới; hạn chế của quá trình chuyên đổi các quan hệ xã hội cơ bản trong làng - xã đồng bằng sông Hồng: vấn đề xây dựng chiến lược phát triển cộng đồng làng - xã đồng băng sông Hong.
Công trình Biển đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (Qua khảo sát một số làng), của Nguyễn Văn Khánh [54] cho thấy mối quan hệ giữa nông nghiệp và ruộng đất, những biến đồi về 15 ruộng đất sẽ kéo theo biến đổi về sản xuất nông nghiệp. Cuốn sách đã đi sâu phân tích quá trình biến đổi cơ cấu ruộng đất và hoạt động kinh tế nông nghiệp với việc chuyên dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi ở từng làng cụ thể, xem đó như những minh họa xác thực nhất. Trong đó, tác giả nhấn mạnh tới Nghị quyết 10 (1988) đã thay đổi căn bản quan hệ sử dụng ruộng đất và tạo ra động lực mới thúc đây sản xuất nông nghiệp phát trién. Nghiên cứu của Dương Bá Phượng, Bảo ton và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa [76], đã chủ ý đến tiềm năng của làng nghề thủ công.